Tạp chí Y học Việt Nam
Mục tiêu: Mô tả thực trạng ứng sau tiêm vắc xin phòng COVID-19 Astrazeneca ở người trưởng thành tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2021. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang được thược hiện trên 773 đối tượng nghiên cứu trong thời gian từ 10/2021 đến tháng 10/2022. Kết quả nghiên cứu: tỷ lệ phản ứng tại chỗ sau tiêm mũi 1 là 24,58%, mũi 2 là 23,42%. Các phản ứng thường gặp là mệt mỏi (mũi 1: 52,26%, mũi 2: 16,56%), tăng cảm giác đau (mũi 1: 39,97 % và mũi 2: 15,39%), sốt dưới 38,5oC (mũi 1: 31,31%; mũi 2: 9,31%). Tỷ lệ xảy ra các phản ứng nguy hiểm rất thấp. Các phản ứng sau tiêm vắc xin phòng Covid 1-9 Astrazeneca thường xảy ra từ 1 đến 24 giờ sau tiêm. Kết luận: Tỷ lệ phản ứng sau tiêm vắc xin phòng Covid-19 Astrazeneca ở người trưởng thành tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2021 tương đối cao, tuy nhiên chủ yếu là những phản ứng thông thường như sốt, đau mỏi người hay đau tại chỗ tiêm.
Tạp chí Khoa học nghiên cứu sức khoẻ và phát triển
Objectives: Hospitals at both central and local levels in Vietnam have had cross-infection of patients and healthcare workers especially during COVID-19 pandemic. Decision No. 3088/QD-BYT was issued by the Minister of Health (MOH) of Vietnam to promulgate the set of criteria for safe hospitals to prevent COVID-19 and other acute respiratory infections. This study aims to describe the implementation of criteria for safety to prevent COVID-19 among public hospitals in Vietnam in 2020. Methods: A cross-sectional study, applied quantitative based on secondary data were extracted and analyzed from a recent survey of hospital safety conducted by MOH. Total of 1220 public hospitals were selected in this study. The study received ethics approval from the Hanoi Medical University. Results: The proportion of public hospitals classified as “safe hospital” was 91.3%, “safe hospital with moderate level” was 7.8% and “unsafe hospital” was 0.9%. The rate of “safe hospital” was lowest in the ministerial hospital group (82.2%), followed by district hospital (89.9%) and regional hospitals (93.0%). The rate of “safe hospital” was highest in the central level group (96.1%), provincial hospital (94.2%) and specialized hospitals (93.1%). Conclusions: Most hospitals in Vietnam had met the standards of safe hospitals according to Decision 3088/QD-BYT. This criteria was only one of the tools to help assess the ability of hospitals to prepare and respond to the COVID-19 pandemic. Ministry of Health should improve the criteria in Decision 3088/ QD-BYT to be more suitable with the emerging new situation and threat of the pandemic and develop mechanisms and regulations that require hospitals to regularly report on disease preparation and response.
Tạp chí Y học Việt Nam
Tạp chí Y học Việt Nam
Mục tiêu: Mô tả thực trạng ứng sau tiêm vắc xin phòng COVID-19 Astrazeneca ở người trưởng thành tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2021. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang được thược hiện trên 773 đối tượng nghiên cứu trong thời gian từ 10/2021 đến tháng 10/2022. Kết quả nghiên cứu: tỷ lệ phản ứng tại chỗ sau tiêm mũi 1 là 24,58%, mũi 2 là 23,42%. Các phản ứng thường gặp là mệt mỏi (mũi 1: 52,26%, mũi 2: 16,56%), tăng cảm giác đau (mũi 1: 39,97 % và mũi 2: 15,39%), sốt dưới 38,5oC (mũi 1: 31,31%; mũi 2: 9,31%). Tỷ lệ xảy ra các phản ứng nguy hiểm rất thấp. Các phản ứng sau tiêm vắc xin phòng Covid 1-9 Astrazeneca thường xảy ra từ 1 đến 24 giờ sau tiêm. Kết luận: Tỷ lệ phản ứng sau tiêm vắc xin phòng Covid-19 Astrazeneca ở người trưởng thành tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2021 tương đối cao, tuy nhiên chủ yếu là những phản ứng thông thường như sốt, đau mỏi người hay đau tại chỗ tiêm.
Nguyễn Trọng Hiếu, Phan Thanh Hải, Pham Thị Thu Thủy, Jasmine Thanh Xuân, Nguyễn Văn Chủ, Trần Thị Thanh Hương, Nguyễn Hữu Thịnh, Trần Đức Huy, Nguyễn Duy Sinh, Nguyễn Văn Thiện Chí, Lương Bắc An, Cao Văn Thịnh, Huỳnh Quang Huy, Đỗ Thị Thanh Thủy, Trương Đình Kiệt, Nguyễn Hoài Nghĩa, Pha
Tạp chí Y học Việt Nam
Đặt vấn đề: Ở Việt Nam, năm 2020 đã ghi nhận
182.563 ca ung thư mới và 122.690 ca tử vong vì ung
thư. Bốn loại ung thư hàng đầu ở Việt Nam là ung thư
gan (14,5%), ung thư phổi (14,4%), ung thư vú
(11,8%) và ung thư đại trực tràng (9,0%). Phát hiện
sớm đồng thời nhiều loại ung thư giúp giảm 78% tỉ lệ
bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn muộn và giảm
26% bệnh nhân tử vong vì ung thư. Ngoài ra, phát
hiện sớm ung thư giúp tăng hiệu quả điều trị và giảm
chi phí y tế. Mục tiêu: Trong nghiên cứu này chúng
tôi phát triển một qui trình sinh thiết lỏng phát hiện
ung thư giai đoạn sớm gọi là SPOT-MAS. Phương
pháp: Qui trình SPOT-MAS được xây dựng dựa trên
công nghệ giải trình tự thế hệ mới để phát hiện đồng thời 4 biến đổi đặc trưng của ADN khối u được phóng
thích vào máu ngoại vi (gọi là circulation tumor DNA,
ctDNA) bao gồm i) sự biến đổi hyper-methylation trên
450 vùng, ii) biến đổi hypo-methylation trên toàn bộ
gen, iii) kích thước đặc trưng của ctDNA và iv) biến đổi
số lượng bản sao và cấu trúc NST. Sự kết hợp 4 đặc
tính này và mô hình máy học đã giúp gia tăng khả
năng phát hiện ung thư từ giai đoạn sớm và cho phép
phát hiện đồng thời 4 loại ung thư gan, phổi, vú và
đại-trực tràng. Qui trình SPOT-MAS được phát triển với
mẫu máu được thu nhận từ 285 bệnh nhân mắc ung
thư giai đoạn I-IIIa và 222 người khoẻ mạnh. Kết
quả: Độ nhạy của qui trình SPOT-MAS đạt 73,9%
(95%CI: 73,2-74,6), độ đặc hiệu đạt 95,9% (95%CI:
95,8-96), giá trị tiên đoán dương là 95,4% (95%CI:
95,2-95,3) và giá trị tiên đoán âm là 75,7% (95%CI:
74,7-76). Kết luận: Phương pháp SPOT-MAS phân
tích đồng thời 4 biến đổi đặc trưng của ctDNA, vì vậy
giúp tăng độ chính xác trong phát hiện sớm ung thư
và cho phép phát hiện đồng thời 4 loại ung thư phổ
biến nhất chỉ trong một lần phân tích.
Tạp chí nghiên cứu Y học
Xét nghiệm Realtime RT-PCR được coi là một trong những phương pháp tốt nhất hiện nay để phát hiện
SARS-CoV-2. Với các đặc tính kỹ thuật phức tạp, xét nghiệm Realtime RT-PCR cần được xác nhận và kiểm
soát được chất lượng nghiêm ngặt. Nghiên cứu sử dụng 30 mẫu bệnh phẩm đường hô hấp đã được tách chiết và khẳng định bằng bộ kit LightMix SarbecoV E-gene plus EAV control theo quy trình khuyến cáo của WHO, thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn mẫu, tiến hành xác nhận kit One-Step RT-PCR COVID-19 Kit THAI DUONG
Multiplex-3 target genes tại Đơn vị Lab SARS-CoV-2 thuộc Trường Đại học Y Hà Nội. Thực nghiệm được tiến hành theo khuyến cáo Hiệp hội vi sinh Hoa kỳ (American Society for Microbiology - ASM) đánh giá độ chụm và độ chính xác. Độ chụm của xét nghiệm đạt giá trị CV% cho độ chụm ngắn hạn và độ chụm dài hạn phù hợp với tiêu chuẩn của nhà sản xuất. Độ chính xác của xét nghiệm có độ đồng thuận dương tính, âm tính đạt 100%. Kết luận: xác nhận độ chụm và độ chính xác của phương pháp phù hợp với tuyên bố của nhà sản xuất.
Tạp chí Y học dự phòng
The purpose of this study was to translate the Brief Autism Mealtime Behavior Inventory (BAMBI) questionnaire into Vietnamese to develop and validate the evaluation of feeding behavior in patients with Autism Spectrum Disorder (ASD). This cross - sectional research was conducted at 18 centers raising children with ASD in Vietnam from May 2021 to December 2021. After testing by Cronbach’s alpha index, all 18 factors were kept (Cronbach’s alpha > 0.7). Then, these 18 questions were included in exploratory factor analysis (EFA) resulting in 4 questions being eliminated (Loading factor > 0.5). The remaining 14 sentences that were built into a model with 5 factors and CFA confirmatory factor analysis showed that this BAMBI’s model is considered to be quite close to the fit model (CFI < 0.9), and divided them into 5 factors (according to EFA) with KMO = 0.757 and Barlett’s Test = 0.000, which was accepted. Therefore, the brief autism mealtime behavior Inventory may be a valid and accurate measuring instrument to evaluate mealtime and feeding difficulties in people with autism in Vietnam
Tạp chí Y học Việt Nam
Mục tiêu: Mô tả thực trạng tự chăm sóc bản thân của sinh viên Y khoa năm thứ ba Trường Đại Học Y Hà Nội và một số thuận lợi, khó khăn. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng. Kết quả: Trong các hành động tự chăm sóc bản thân, sinh viên thực hành tự chăm sóc thể chất chiếm tỷ lệ cao nhất (83,6%), xã hội (26,2%), cảm xúc (21,1%), tâm lý (8,3%) và tâm linh chiếm tỷ lệ thấp nhất (7,6%). Những yếu tố thuận lợi trong quá trình tự chăm sóc của sinh viên bao gồm: vận dụng kiến thức vào việc tự chăm sóc (15,3%), được sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè hoặc những người khác với tỷ lệ lần lượt là 56,7%, 55,3%, 12,3%. Bên cạnh những thuận lợi, sinh viên cũng gặp phải một số khó khăn như: thiếu thời gian cho hoạt động tự chăm sóc (93%), căng thẳng, áp lực từ việc học (38,9%), phụ thuộc kinh tế gia đình (28,3%), môi trường sống chưa phù hợp (14,2%). Kết luận: Hành động tự chăm sóc thể chất thường được sinh viên quan tâm, thực hiện nhiều nhất so với các hoạt động tự chăm sóc khác.
Tạp chí Y học Việt Nam
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định tỷ lệ trầm cảm ở sinh viên trường Đại học Y Hà Nội năm học 2020- 2021 trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và một số yếu tố liên quan đến trầm cảm. Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang trên 1325 sinh viên trường Đại học Y Hà Nội, công cụ để đánh giá trầm cảm là thang đo DASS 21. Các thông tin khác được thu nhập bằng bộ câu hỏi tự soạn. Kết quả cho thấy có 57,1% sinh viên có nguy cơ mắc trầm cảm. Trong đó trầm mức độ nhẹ: 16,5%, trầm cảm mức độ vừa: 25,1%, trầm cảm mức độ nặng: 7,1%, rất nặng: 8,4%. Các yếu tố liên quan đến nguy cơ trầm cảm ở sinh viên là: khó khăn với tài chính, khó khăn với học trực tuyến và Covid-19: lo lắng vì dịch bệnh đang lây lan rộng, lo lắng rằng mình có khả năng mắc bệnh, sợ hãi về nhà vì có khả năng lây nhiễm bệnh cho gia đinh. Sinh viên tích cực rèn luyện, nâng cao sức khoẻ, có thời gian biểu khoa học. Nhà trường quan tâm, hỗ trợ sinh viên khó khăn về tài chính, tư vấn học tập.
Tạp chí nghiên cứu Y học
Thừa cân, béo phì và thói quen ăn uống không lành mạnh là các vấn đề dinh dưỡng của người bệnh ung thư tuyến giáp (UTTG). Nghiên cứu nhằm mô tả tình trạng dinh dưỡng và thói quen ăn uống của người bệnh UTTG tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 91 người bệnh UTTG. Thừa cân, béo phì lấy theo ngưỡng cho người châu Á với BMI ≥ 23 kg/m2 . Kết quả cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì của người bệnh UTTG là 28,6%. Người bệnh có thói quen tiêu thụ thường xuyên các thực phẩm: thịt đỏ (67%), thực phẩm chiên rán (60,5%); thực phẩm chế biến sẵn (26,7%); rau họ cải (80,2%). Ngược lại, rất ít người bệnh thường xuyên tiêu thụ các thực phẩm sau: cá và hải sản (15,1%); hạt và quả hạch (3,5%); ngũ cốc nguyên hạt (3,5%); rau củ giàu beta-caroten (9,3%). Các yếu tố liên quan tới thừa cân, béo phì bao gồm: tuổi trên 60 (OR = 4,1); nam giới (OR = 5,2); và thường xuyên tiêu thụ thịt đỏ (OR = 3,4)
Tạp chí Y học Việt Nam
Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và điều tra yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng ở người bệnh cao tuổi mắc bệnh thận mạn giai đoạn 3-5 chưa điều trị thay thế. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Người bệnh ≥ 60 tuổi mắc bệnh thận mạn điều trị nội trú tại khoa Thận tiết niệu – Lọc máu, bệnh viện Hữu Nghị. Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo MNA là 14,1%, tỷ lệ suy dinh dưỡng theo BMI là 13,2%, tỷ lệ suy dinh dưỡng theo albumin huyết thanh là 23,6%. Điểm MNA trung bình giảm dần theo giai đoạn bệnh 3, 4, 5, lần lượt là 24,1±3,1; 22,1±4,4; 21,0±3,6 điểm (p < 0,05). Tình trạng dinh dưỡng có liên quan đến giai đoạn bệnh (OR = 3,1, 95%CI: 1,1-9,8, p < 0,05), albumin huyết thanh < 35 g/L (OR 5,8, 95%CI: 1,8-21,5, p < 0,05) và tình trạng thiếu máu (OR = 3,0, 95%CI: 1,1-8,3, p < 0,05). Kết luận: Người cao tuổi mắc bệnh thận mạn có tỷ lệ suy dinh dưỡng khá cao, có mối liên quan giữa tình trạng suy dinh dưỡng với giai đoạn bệnh, albumin và tình trạng thiếu máu
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
Nghiên cứu nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng người bệnh ung thư đầu cổ điều trị xạ trị. Nghiên cứu cắt ngang trên 150 người bệnh, tuổi trung bình 53,3 ± 9,15. Kết quả theo PG-SGA có 78,6% người bệnh có suy dinh dưỡng hoặc nguy cơ suy dinh dưỡng (PG-SGA B 47,3%, PG-SGA C 31,3%). PG-SGA B, PG-SGA C chiếm tỷ lệ cao ở ung thư vòm-mũi họng, thanh quản-hạ họng, khoang miệng (p = 0,016), giai đoạn nặng III, IV (p = 0,013), người bệnh điều trị hóa xạ trị đồng thời (p < 0,01). Cân nặng, chu vi vòng cánh tay, chu vi vòng bắp chân, albumin, hemoglobin giảm dần theo mức độ trầm trọng SDD (p < 0,05). Ngoài ra, tình trạng dinh dưỡng có mối liên quan chặt chẽ tới chất lượng cuộc sống (p < 0,05). Người bệnh ung thư đầu cổ dễ bị suy dinh dưỡng trong quá trình xạ trị, vì vậy tình trạng dinh dưỡng nên được sàng lọc, đánh giá và can thiệp trong quá trình điều trị.
Tạp chí Y học dự phòng
Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 559 trẻ em dưới 2 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) tại bệnh viện Sản Nhi và bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc nhằm mô tả tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan. Trẻ được cân đo nhân trắc và bà mẹ được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) nhẹ cân, thấp còi ở trẻ em dưới 2 tuổi mắc NKHHC lần lượt là 6,4% và 11,6%. Tỷ lệ SDD thấp còi tăng dần theo nhóm tuổi: < 6 tháng 7,7%; 6 - 11 tháng 11,9%; 12 - 23 tháng 17,2% (p = 0,028). Một số yếu tố liên quan đến tình trạng SDD nhẹ cân gồm: Sống ở nông thôn (OR = 3,6; 95%CI 1,1 - 12,1), sinh non < 37 tuần (OR = 4,4; 95%CI 2,9 - 10,0), cân nặng sơ sinh thấp < 2500g (OR = 4,8; 95%CI 2,1 - 11,1), ăn không đủ số lượng thức ăn mỗi bữa (OR = 10,5; 95%CI 2,4 - 45,0) và ăn không đủ số nhóm thực phẩm (OR = 2,8; 95%CI 1,2 - 6,7). Yếu tố liên quan đến tình trạng SDD thấp còi là ăn không đủ số lượng thức ăn mỗi bữa (OR = 2,7; 95%CI 1,4 – 5,3). Do đó, cần thực hiện các giải pháp nâng cao thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 2 tuổi mắc NKHHC, từ đó giúp nâng cao sức khỏe, giảm số ngày nằm viện và giảm nguy cơ tử vong ở trẻ em
Tạp chí Y học cộng đồng
Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 421 người bệnh ĐTĐ type 2 từ ≥ 20 tuổi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam. Mục tiêu: Mô tả tình trạng dinh dưỡng (TTDD) và một số yếu tố liên quan. Phương pháp: Cắt ngang mô tả. Kết quả: Đánh giá theo phân loại của Văn phòng Tổ chức Y tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương (WPRO) kết quả cho thấy tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có TTDD bình thường theo BMI là 46,8%; thừa cân, béo phì (TCBP) là 53,2%. Tỷ lệ thừa cân, béo phì (TCBP) ở nam giới là 56,3% cao hơn so với nữ giới 49,7%. Một số yếu tố liên quan tới tình trạng TCBP có ý nghĩa thống kê (p < 0,05): Nhóm vòng eo/vòng mông cao có nguy cơ TCBP cao gấp 2,55 (95%CI: 1,08 – 6,05) lần so với nhóm vòng eo/vòng mông bình thường. Nhóm kinh tế khá/giàu có nguy cơ TCBP cao gấp 3,04 (95%CI: 2,04 – 4,55) lần so với nhóm kinh tế nghèo/trung bình.
Tạp chí nghiên cứu Y học
Tình trạng dị hoá và viêm hệ thống khi mắc COVID-19 khiến người bệnh tăng tiêu hao năng lượng và protein, đặc biệt tình trạng này trở nên trầm trọng hơn với người bệnh hồi sức tích cực (ICU) và thường kèm theo tình trạng nuôi dưỡng kém. Nghiên cứu hồi cứu đánh giá tình trạng dinh dưỡng và đặc điểm nuôi dưỡng qua ống thông dạ dày của 60 người bệnh COVID-19 nặng điều trị tại ICU của Bệnh viện Điều trị Người bệnh COVID-19 trực thuộc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 12/2021 đến 01/2022 cho kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) theo tiêu chuẩn của sáng kiến lãnh đạo toàn cầu về suy dinh dưỡng (GLIM) là 65% với 13,3% SDD mức độ nặng và 51,7% SDD mức độ vừa. Mức giảm khối cơ và bề dày lớp mỡ dưới da từ nhẹ đến trung bình trở lên là 31,7% và mức nặng là 13,3%. Về đặc điểm nuôi dưỡng qua ống thông: 81,7% được nuôi dưỡng nhỏ giọt ngắt quãng; 5,0% nhỏ giọt liên tục; 13,3% được bơm bolus. Số bữa ăn qua ống thông trung bình là 4,5 bữa/ngày, mức năng lượng đạt 90,5% đến 100% nhu cầu khuyến nghị (NCKN), protein đạt 74,5 - 81,6% NCKN. Các vitamin và khoáng chất đạt NCKN từ 50 - 100%. Tỷ lệ người bệnh có triệu chứng kém dung nạp là 11,7%, gặp chủ yếu ở người bệnh được nuôi dưỡng bằng phương pháp bơm bolus. Tỷ lệ suy dinh dưỡng cao và nhu cầu một số chất dinh dưỡng còn chưa đạt NCKN, do đó, đánh giá tình trạng dinh dưỡng và can thiệp dinh dưỡng tích cực cho người bệnh COVID-19 tại ICU cần được thực hiện từ khi nhập viện và theo dõi trong suốt quá trình điều trị.
Tạp chí Y học Việt Nam
Đặt vấn đề: Suy dinh dưỡng có liên quan đến tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở người bệnh sa sút trí tuệ (NBSSTT). Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu đánh giá tình trạng dinh dưỡng và phân tích mối tương quan giữa mức độ suy dinh dưỡng và mức độ sa sút trí tuệ của NBSSTT tại bệnh viện Lão khoa Trung Ương năm 2022. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 63 NBSSTT đang điều trị tại Bệnh viện Lão khoa Trung Ương từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2022. Bộ câu hỏi nghiên cứu bao gồm Thang đánh giá trạng thái tâm thần tối thiểu (Mini Mental State Examination-MMSE), Thang đánh giá dinh dưỡng giản lược (Mini Nutrition Assessment-MNA), và các chỉ tiêu nhân trắc học. Kết quả: 47,7% đối tượng mắc sa sút trí tuệ mức độ trung bình và nặng. Cân nặng và tỷ lệ phần trăm mỡ cơ thể trung bình là 55,5±8,9 (kg) và 32,4±7,3 (%). 74,6% NBSSTT có suy dinh dưỡng/nguy cơ suy dinh dưỡng. Điểm MMSE và điểm MNA có mối tương quan thuận với hệ số tương quan r.=0,3 (p
Tạp chí Y học cộng đồng
Mục tiêu: Mô tả tình trạng dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh năm 2020-2021. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 457 người bệnh đái tháo đường type 2. Kết quả: Đa số (61,1%) đối tượng nghiên cứu có tình trạng thừa cân (30,6%) và béo phì (30,5%); tỷ lệ thừa cân ở nam giới (36,0%) cao hơn nữ giới (24,0%), trong khi đó tỷ lệ béo phì ở nữ (33,4%) cao hơn nam (28,1%). Tỷ lệ CED (thiếu năng lượng trường diễn) chỉ chiếm 1,3%. Đối tượng có vòng eo cao (nam ≥90 cm, nữ ≥ 80 cm) chiếm 50,1%; tỷ lệ nữ giới có vòng eo cao (75,5%) cao hơn nam giới (29,6%). Đa số đối tượng có tỷ số VE/VM (vòng eo/vòng mông) bình thường chiếm 67,6%; có 32,4% đối tượng có tỷ số VE/VM cao. Trong đó, tỷ số VE/VM cao ở nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn 70,6% trong khi đó tỷ lệ tỷ số VE/VM cao của nam giới chỉ chiếm 1,6%.
Lê Thị Thanh Xuân, Nguyễn Thanh Thảo, Nguyễn Ngọc Anh, Phạm Thị Quân, Phan Thị Mai Hương, Nguyễn Quốc Doanh, Tạ Thị Kim Nhung, Lương Mai Anh, Nguyễn Thị Thu Huyền, Nguyễn Thị Liên Hương, Nguyễn Thị Quỳnh
Tạp chí nghiên cứu Y học
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện nhằm mô tả tính sẵn sàng ứng phó với COVID-19 của nhân viên y tế Việt Nam năm 2021. Nghiên cứu được thực hiện trên 1603 đối tượng tại một số cơ sở y tế tại Việt Nam từ tháng 5/2021 đến tháng 5/2022. Kết quả cho thấy hầu hết đối tượng nghiên cứu tự tin và sẵn sàng tham gia phòng chống COVID-19 (lần lượt là 97,9% và 93,4%). Đa số nhân viên y tế mong muốn được hỗ trợ về trang thiết bị bảo hộ cá nhân (82,2%), tài chính (70,4%) và đào tạo chuyên môn (64,1%). Trực phòng chống COVID-19, được đào tạo về chăm sóc, điều trị và dự phòng COVID-19 là những yếu tố liên quan đến tính sẵn sàng ứng phó của nhân viên y tế với COVID-19.
Tạp chí Y học cộng đồng
Mục tiêu: Đây là nghiên cứu về dịch tễ học ung thư phổi trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2015 – 2019, cung cấp thông tin quan trọng về tình hình mắc bệnh, đặc điểm dịch tễ của ung thư phổi. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả có phân tích, hồi cứu số liệu. Kết quả: Tổng số ca mắc mới ung thư phổi tại Hà Nội giai đoạn 2015 – 2019 là 7389 ca. Trong đó, tỉ suất mắc mới ung thư phổi đặc trưng theo tuổi cao nhất ở nhóm tuổi 70 – 79 (116,2 ca/100 000 dân). Tỉ suất mắc thô ở cả hai giới là 20,3/100 000 dân; tỉ suất mắc chuẩn hóa theo tuổi ở hai giới là 19,6/100 000 dân (trong đó nam giới là 31,6/100 000 dân và nữ giới là 9,7/100 000 dân); tỉ suất mắc chuẩn hóa theo tuổi ở khu vực nội thành (13,7/100 000 dân) thấp hơn ngoại thành (19,4/100 000 dân). Kết luận: Ung thư phổi vẫn đang là vấn đề sức khỏe công cộng cần quan tâm đặc biệt. Các chiến lược kiểm soát thuốc lá hiệu quả, sàng lọc phát hiện sớm, cải thiện chất lượng điều trị là những ưu tiên hàng đầu để làm giảm tác hại của ung thư phổi lên sức khỏe cộng đồng.
Tạp chí Y học Việt Nam
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ nhẹ cân sơ sinh và mô tả một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Phụ sản trung ương năm 2021. Đối tượng: Trẻ được sinh ra tại bệnh viện Phụ sản Trung ương và bà mẹ của trẻ sơ sinh. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. Kết quả và kết luận: Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân là 14,1%. Bà mẹ có độ tuổi từ 35 tuổi trở lên có nguy cơ sinh con nhẹ cân gấp 4,8 lần các bà mẹ dưới 35 tuổi, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với 95% CI (2,4 - 9,7). Các bà mẹ có trình độ học vấn từ THPT trở xuống có nguy cơ sinh con nhẹ cân gấp 3,5 lần các bà mẹ có trình độ học vấn trên THPT, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với 95% CI (1,8 - 7,2), các bà mẹ có tiền sử đẻ non có nguy cơ sinh con nhẹ cân gấp 4,3 lần các bà mẹ không có tiền sử đẻ non, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với khoảng tin cậy 95% CI (1,4-11,9). Như vậy, các yếu tố liên quan chặt chẽ tới tỷ lệ sơ sinh nhẹ cân là tuổi của mẹ, trình độ học vấn của mẹ và tiền sử sinh non của bà mẹ.
Tạp chí Y học Việt Nam
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ có nguy cơ hội chứng nuôi ăn lại (HCNAL) ở nhóm người bệnh phẫu thuật ống tiêu hoá và một số yếu tố liên quan. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 104 người bệnh từ 18 tuổi trở lên. Đánh giá nguy cơ HCNAL trong vòng 24 – 72h đầu nhập viện. Kết quả: Tỉ lệ người bệnh có nguy cơ HCNAL chiếm 42,3%, trong đó 63% có nguy cơ mức độ nặng, 37% mức độ trung bình. Có sự khác biệt giữa 2 nhóm có và không nguy cơ về cân nặng, BMI trung bình, phần trăm sụt cân trong 1 tháng, 6 tháng, nồng độ kali huyết thanh, hẹp môn vị, ung thư thực quản (p < 0.05). Phẫu thuật
ống tiêu hoá trên, các mặt bệnh có tính chất tắc nghẽn/ bán tắc làm tăng nguy cơ HCNAL lên lần lượt là 17 lần (95%CI: 2,9 – 99,5; p < 0,001) và 13,3 lần (95%CI: 4,2 - 42,4; p < 0,001). Kết luận: Tỉ lệ nguy cơ HCNAL ở nhóm người bệnh phẫu thuật ống tiêu hoá rất cao, phẫu thuật ống tiêu hoá trên và các bệnh lý có tắc nghẽn/bán tắc ống tiêu hoá là yếu tố nguy cơ HCNAL.
Tạp chí Y học Việt Nam
Một nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 361 sinh viên trường Đại học Y Hà Nội nhằm mô tả thực trạng thực hành về phòng tránh dịch bệnh COVID-19 của sinh viên trường Đại học Y Hà Nội. Kết quả cho thấy tỷ lệ sinh viên có điểm thực hành các biện pháp phòng ngừa ở mức tốt là 85,6%. Phần lớn sinh viên chấp hành nghiêm túc theo chỉ thị của Nhà nước (99,7%), thường xuyên vệ sinh tay đúng cách (98,7%), bổ sung dinh dưỡng, tăng thể trạng (89,2%), đeo khẩu trang khi ra đường (96,4%). Sinh viên trường Đại học Y Hà Nội sử dụng mạng xã hội (92,5%), trang web chính thức của Bộ Y tế (87,3%) và tivi (75,3%) để cập nhật tình hình dịch bệnh và phòng chống dịch bệnh. Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng chống dịch COVID-19 được đưa ra như tuổi, giới tính, chuyên ngành, người nhà làm việc trong ngành Y. Tuy nhiên, các yếu tố này không có ý nghĩa thống kê. Cần có thêm các nghiên cứu mở rộng với quy mô lớn hơn nhằm đánh giá sâu hơn về hành vi phòng chống dịch COVID-19 và các yếu tố liên quan đến những hành vi này của sinh viên
Tạp chí Y học cộng đồng
Mục tiêu: Nghiên cứu này được tiến hành nhằm xác định thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục về chuyên môn của điều dưỡng tại các khoa hệ nhi, Bệnh Viện Sản Nhi tỉnh Ninh Bình. Phương pháp: Đây là 1 nghiên cứu cắt ngang, được thực hiện trên 121 đối tượng là điều dưỡng viên thuộc các khoa hệ nhi tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Ninh Bình từ 7/2021 đến 6/2022. Các đối tượng nghiên cứu được chọn mẫu toàn bộ. Chúng tôi sử dụng phương pháp hồi cứu kết hợp phỏng vấn bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn. Kết quả: Về thực trạng đào tạo, năm 2019-2020, các lớp đào tạo tại Bệnh viện đã đào tạo được 100% điều dưỡng hệ nhi tại bệnh viện. Số điều dưỡng được cử đi đào tạo tại các cơ sở tuyến Trung ương chiếm tỷ lệ thấp (17,36%). So với năm 2019, năm 2020 có số lượt đào tạo tại Bệnh viện cao hơn gần 4 lần, tuy nhiên, số lượt đào tạo tại các cơ sở tuyến trung ương thấp hơn 3 lần. Về nhu cầu đào tạo, trong 6 kỹ thuật ở khoa nhi, có 2 kỹ thuật có mức độ thành thạo thấp cần được ưu tiên đào tạo. Ngoài ra có 2 kỹ thuật khác có mức độ thành thạo trung bình nên có thể đào tạo giám sát. Tất cả 17 kỹ thuật khoa cấp cứu, mức độ thành thạo dao động ở mức trung bình. Do đó, tất cả các kỹ thuật này đều có nhu cầu đào tạo ở mức đào tạo qua giám sát. Kết luận: Kết quả của nghiên cứu chúng tôi chỉ ra, nên chú trọng triển khai các hình thực đào tạo với các kỹ thuật có mức thành thạo chưa tốt. Ngoài ra, các lớp đào tạo liên tục tại Bệnh viện cần tăng cường hình thức đào tạo thực hành.
Tạp chí Y học Việt Nam
Mục tiêu: 1) Xác định tỷ lệ thừa cân (TC), béo phì (BP) ở học sinh lớp 5 trường tiểu học Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương năm 2021. 2) Mô tả kiến thức về TC, BP ở học sinh lớp 5 trường tiểu học Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương năm 2021. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Học sinh lớp 5 tại trường tiểu học Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương; nghiên cứu mô tả cắt ngang. Kết quả: Chỉ số BMI trung bình của trẻ nam và trẻ nữ lần lượt là 19,0 ± 4,7 kg/m2 và 19,2 ± 3,9 kg/m2 , tỷ lệ trẻ bị thừa cân, béo phì là 27,2%. Tỷ lệ trẻ có kiến thức về khái niệm thừa cân, béo phì tốt đạt là 59,6%, tỷ lệ trẻ có kiến thức về nguyên nhân thừa cân, béo phì tốt đạt là 57,2%, tỷ lệ trẻ có kiến thức về tác hại của thừa cân, béo phì tốt đạt là 58,0%, tỷ lệ trẻ có kiến thức về cách phòng chống thừa cân, béo phì tốt đạt là 57,6%. Kết luận: Nguy cơ thừa cân, béo phì tăng gấp 9,5 lần (95%CI: 4,73-19,03) ở trẻ có kiến thức chung về thừa cân, béo phì chưa tốt. Việc giáo dục cho trẻ có được kiến thức cơ bản tốt để có được nhận thức và hành vi đúng đắn nhằm mục đích phòng chống thừa cân, béo phì là vô cùng cần thiết
Tạp chí nghiên cứu Y học
Nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng bộ công cụ DASS - 21 trên 224 đối tượng nhằm mô tả thực trạng trầm cảm, lo âu, stress và xác định các yếu tố liên quan đến các vấn đề sức khỏe tâm thần này ở người sử dụng ma túy tại 3 quận Long Biên, Nam Từ Liêm và Hoàn Kiếm. Kết quả cho thấy tỷ lệ biểu hiện trầm cảm, lo âu, stress ở người sử dụng ma túy khá cao lần lượt là 31,7%, 64,3% và 22,8%. Mô hình đa biến chỉ ra 4 yếu tố liên quan đến dấu hiệu trầm cảm gồm nhóm tuổi ≥ 41 tuổi (OR = 2,4), tần suất sử dụng chất dạng thuốc phiện hàng tuần (OR = 2,2), mức độ nguy cơ cao do dùng chất dạng thuốc phiện (OR = 3,6) và tiền sử không tiêm chích ma túy (OR = 4,5). Dấu hiệu stress có mối liên quan với các yếu tố: tần suất sử dụng đồ uống có cồn hàng tuần (OR = 9,1), tần suất sử dụng chất thuốc phiện hàng tuần (OR = 2,9), mức độ nguy cơ cao do dùng chất dạng thuốc phiện (OR = 3,1) và tiền sử không tiêm chích ma túy (OR = 6,5), trong khi không có yếu tố nào được chứng minh có liên quan đến dấu hiệu lo âu.
|