Sinh viên y năm cuối là một trong những lực lượng nòng cốt đáp ứng nhu cầu về nhân lực phục vụ việc sinh viên chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong tương lai. Vì vậy, tình trạng dinh dưỡng của nguồn nhân lực này là một vấn đề đáng để quan tâm và nghiên cứu. Mục tiêu: đánh giá tình trạng dinh dưỡng của sinh viên năm thứ 6 Trường Đại học Y Hà Nội năm học 2022-2023; mô tả kiến thức và thực hành dinh dưỡng của sinh viên năm thứ 6 Trường Đại học Y Hà Nội năm học 2022-2023. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 575 sinh viên năm thứ 6 Trường Đại học Y Hà Nội năm học 2022-2023.
Kết quả nghiên cứu:
1. Tình trạng dinh dưỡng của sinh viên Y6 Trường Đại học Y Hà Nội năm học 2022-2023
- Chiều cao trung bình sinh viên nam là 167,6 ± 6,2 (cm); Sinh viên nữ là 155,8 ± 5,1 (cm).
- Cân nặng trung bình sinh viên nam là 65,2 ± 11,2 (kg); Sinh viên nữ là 49,7 ± 6,8 (kg).
- Tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn chung là 13,0%, trong đó ở sinh viên nữ là 20,0% có xu hướng cao hơn so với tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở sinh viên nam (4,0%).
- Tỷ lệ TCBP chung là 27,5%, tỷ lệ thừa cân, béo phì có xu hướng cao hơn ở sinh viên nam với 46,0% trong khi sinh viên nữ là 13,2%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,01)
2. Kiến thức và thực hành dinh dưỡng của sinh viên Y6 Trường Đại học Y Hà Nội
Về kiến thức dinh dưỡng:
Có 89% sinh viên Y6 có kiến thức “Đạt” về dinh dưỡng, trong đó kiến thức “đạt” về các chất dinh dưỡng là 78,6%, kiến thức “Đạt” về thừa cân, béo phì là 94,1%, kiến thức “đạt” về các bệnh mạn tính không lây là 83,7%.
Về thực hành dinh dưỡng:
- Thực hành về thói quen ăn uống: 77,2% sinh viên có thực hành về thói quen ăn uống tốt.
- Tần suất tiêu thụ thực phẩm: các loại phủ tạng động vật có tần suất tiêu thụ 1-2 lần/tuần cao nhất với 55,3%. Tần suất tiêu thụ bia, rượu vang, rượu mạnh hàng tuần (3-5 lần/tuần) chiếm tỉ lệ là 17,35%; 12,87% và 15,3%.
- Tỷ lệ sinh viên không có thói quen chấm hoặc cho thêm mắm muối vào đồ ăn và không ăn đêm chiếm tỷ lệ khá cao (72,5% và 77,7%).
- Thời gian hoạt động tĩnh tại trung bình của sinh viên nữ (899,6±455,2 phút/ngày) cao hơn so với sinh viên nam (832,1±307,5 phút/ngày).
Background: Dyslipidemia, caused by abnormalities blood lipid profiles including increased total cholesterol, increased triglycerides, increased LDL-C, and decreased HDL-C, has posed significant health risks including cardiovascular diseases, diabetes, and other pathologies for people over the world, Vietnam included. The main purpose of the systematic review and meta-analysis was to estimate the prevalence of dyslipidemia and describe some factors related to dyslipidemia among Vietnamese adults from 2010 to 2023.
Method: We searched relevant articles by key terms such as dyslipidemia, blood lipid, cholesterol, LDL, HDL, triglyceride. Included studies were extracted from Pubmed/ Medline, Web of Science, Embase, CINANL, and 27 journals in Vietnam between January 1st 2010, to August 3rd 2023. For meta-analysis, we performed forest plot using random effect model with R 4.4.1 and Stata 17.0.
Findings: 105 articles were included in systematic review and 67 studies were included in meta-analysis. The pooled prevalence of dyslipidemia was 68% (95%CI: 60% - 76%), high total cholesterol was 34% (95%CI: 29% - 40%), high triglycerides was 39% (95%CI: 32% - 46%), low HDL-C was 26% (95%CI: 20% - 35%), and high LDL-C was 26% (95%CI: 20% - 35%). Moreover, having diabetes (OR=2.47, 95%CI: 1.72 – 3.55), overweight/ obesity (OR= 2.46, 95%CI: 2.03 – 2.98), large WC (OR=3.47, 95%CI: 2.39 – 5.05), low physical activity (OR=2.20, 95%CI: 1.41 – 3.45), and low vegetables consumption (OR=3.64, 95%CI: 1.53, 8.07) were significantly positively associated with dyslipidemia.
Conclusion: The prevalence of dyslipidemia and subtypes is relatively high among Vietnamese adults, particularly with elevated triglycerides.
Mục tiêu:
1. Mô tả nhu cầu tư vấn dinh dưỡng của bà mẹ có con dưới 2 tuổi đến tiêm chủng tại các Trạm y tế thành phố Từ Sơn, Bắc Ninh năm 2023.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan tới nhu cầu tư vấn dinh dưỡng của bà mẹ có con dưới 2 tuổi tiêm chủng tại các Trạm y tế thành phố Từ Sơn, Bắc Ninh năm 2023.
Đối tượng: Các bà mẹ có con dưới 2 tuổi đưa trẻ đến tiêm chủng tại 6 trạm y tế thuộc thành phố Từ Sơn, Bắc Ninh.
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.
Phương pháp chọn mẫu: Chọn ngẫu nhiên 6/12 phường và thu thập số liệu bằng phiếu phát vấn tự điền từ tháng 10/2023 đến tháng 12/2023.
Cỡ mẫu: 220 bà mẹ.
Kết quả
1. Về nhu cầu TVDD: có 64,1% bà mẹ có nhu cầu TVDD cho trẻ.
2. Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu tư vấn dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu
- Nhóm những bà mẹ có TĐHV ≤ THPT có nhu cầu TVDD cho trẻ cao gấp 2,9 lần (95%CI: 1,4 – 5,8) so với nhóm có trình độ > THPT.
- Nhóm những đứa trẻ là con đầu lòng có bà mẹ có nhu cầu TVDD cho trẻ cao gấp 2,0 lần (95%CI: 1,1 - 3,8) so với nhóm những đứa trẻ là con thứ, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Đề tài: “Thực trạng chương trình đào đạo Cử nhân Dinh dưỡng và phản hồi của người học tại một số trường đại học ở Việt Nam” được triển khai với hai mục tiêu nghiên cứu là: 1. Mô tả thực trạng chương trình đào tạo Cử nhân Dinh dưỡng tại một số trường đại học ở Việt Nam năm 2023. 2. Phân tích phản hồi của người học về chương trình đào tạo Cử nhân Dinh dưỡng tại một số trường đại học ở Việt Nam năm 2023. Đối tượng nghiên cứu là một số trường đại học đào tạo Cử nhân Dinh dưỡng tại Việt Nam và người học Cử nhân Dinh dưỡng. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. Kết quả: Chương trình đào tạo Cử nhân Dinh dưỡng của các trường đại học trong nghiên cứu cơ bản đạt yêu cầu theo Thông tư 17/2021/TT-BGDĐT về mục tiêu chương trình, chuẩn đầu vào, chuẩn đầu ra. Kết quả đánh giá trên 419 đối tượng người học Cử nhân Dinh dưỡng chính quy tại bốn trường đại học (215 sinh viên năm cuối và 204 sinh viên đã tốt nghiệp) về chương trình đào đạo: 22,9% người học đánh giá mức độ đáp ứng nhiều, rất nhiều; mức vừa phải là 61,8%; mức thấp là 15,5%. Về cơ sở vật chất có 41,5% người học đánh giá đáp ứng ở mức độ nhiều, rất nhiều; mức vừa phải là 49,2% và mức thấp là 9,3%. Về cơ sở thực hành, có 35,5% người học đánh giá mức độ đáp ứng nhiều, rất nhiều; mức vừa phải 54,,7%; mức thấp là 9,8%.Mong muốn sự điều chỉnh về chương trình đào tạo Cử nhân Dinh dưỡng của người học là: tăng thời gian học/học sâu các môn DDCS, định hướng cho sinh viên lựa chọn các lĩnh vực cụ thể (77,3%); tăng thời gian thực hành các môn chuyên ngành dinh dưỡng (71,8%); định hướng kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên trước khi ra trường (68,7%); học thêm nhiều môn về y học, bệnh lý (54,9%) và có giáo trình học tập đồng bộ giữa các cơ sở đào tạo (51,3%).
Mục tiêu:Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi đến khám tại Phòng khám chuyên khoa dinh dưỡng VIAM năm 2023. Mô tả khẩu phần ăn của trẻ dưới 5 tuổi đến khám tại Phòng khám chuyên khoa dinh dưỡng VIAM năm 2023. Đối tượng: trẻ dưới 5 tuổi đến khám tại Phòng khám chuyên khoa dinh dưỡng VIAM năm 2023. Phương pháp nghiên cứa: mô tả cắt ngang 243 trẻ. Kết quả: tỷ lệ cao nhất với 32.9%, tiếp đến là tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thấp còi 32.5% và tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng gầy còm thấp nhất với 14.8%. Nhóm trẻ 36-47 tháng có tỷ lệ SDD nhẹ cân và thấp còi cao nhất trong các nhóm tuổi, với tỷ lệ SDD thấp còi là 39.5% và SDD nhẹ cân là 41.9%.
Tên đề tài:
Kiến thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì năm 2024.
2. Mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành dinh dưỡng của người bệnh ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì năm 2024.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành dinh dưỡng của người bệnh ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì năm 2024.
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: là người bệnh được chẩn đoán xác định mắc ĐTĐ type 2 đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Ba Vì năm 2024.
* Tiêu chuẩn lựa chọn
- Người bệnh từ 20 tuổi trở lên.
- Người bệnh được chẩn đoán xác định ĐTĐ type 2 đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì năm 2024.
- Người bệnh có sức khỏe tâm thần bình thường, có khả năng đọc, hiểu tiếng Việt và trả lời các câu hỏi của điều tra viên.
- Người bệnh được giải thích đầy đủ và tự nguyện tham gia nghiên cứu.
* Tiêu chuẩn loại trừ
- Người bệnh mang thai.
- Người bệnh có diễn biến bệnh nặng lên phải vào viện điều trị nội trú hoặc có nhiều bệnh lý kém theo phải thực hiện chế độ dinh dưỡng khác.
- Người bệnh đã được điều tra viên tiến hành thu thập thông tin về kiến thức, thực hành dinh dưỡng trong lần khám trước (mỗi bệnh nhân chỉ được lấy thông tin 1 lần duy nhất).
* Địa điểm và thời gian nghiên cứu
* Thời gian
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8/2023 đến 10 /2024.
Thời gian thu thập số liệu: từ 1/1/2024 đến tháng 30/6/2024.
* Địa điểm
Tại phòng khám nội tiết- Khoa khám bệnh- Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì.
* Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.
* Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Áp dụng công thức :
n = Z_((1-∝⁄(2) ))^2 (p( 1-p))/d^2
Trong đó:
- n: cỡ mẫu nghiên cứu.
- Z(1- α/2) = 1,96 ( chọn α = 0,05, với khoảng tin cậy 95%, tra bảng ta có Z= 1,96)
- d = Khoảng sai lệch mong muốn, chọn d= 0,05
- p = 0,316 (Tỉ lệ người bệnh ĐTĐ type 2 không đạt điểm kiến thức dinh dưỡng ở nghiên cứu của Vũ Thị Kim Phượng và cộng sự tại bệnh viện nội tiết tỉnh Lào Cai năm 202245 ).
Vậy cỡ mẫu tính được là 332 người bệnh.
*Phương pháp chọn mẫu: Lấy mẫu thuận tiện những người bệnh đúng tiêu chuẩn lựa chọn, cho đến khi đủ cỡ mẫu.
4. Kết luận chính:
Về thực trạng đạt về kiến thức và thực hành của ĐTNC:
Tỷ lệ đạt kiến thức về dinh dưỡng của ĐTNC là 67,2%, tỷ lệ không đạt là 32,8%.
Tỷ lệ đạt thực hành về dinh dưỡng của ĐTNC là 129 ĐTNC chiếm 38,8%, tỷ lệ không đạt là 203 ĐTNC chiếm 61,2%.
Về một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành dinh dưỡng của ĐTNC:
- Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính, tình trạng hôn nhân, tình trạng học vấn với kiến thức dinh dưỡng của ĐTNC với p > 0,05.
- Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi, thời gian mắc ĐTĐ, tình trạng dinh dưỡng (BMI) với kiến thức dinh dưỡng của người bệnh ĐTĐ type 2. Trong đó, nhóm đối tượng có tuổi trên 60, không đạt về kiến thức dinh dưỡng cao gấp 1,79 lần so với nhóm đối tượng có tuổi dưới 60 (OR = 1,79, 95% CI = 1,12- 2,89, p< 0,001). Nhóm ĐTNC có thời gian mắc bệnh ≤ 5 năm không đạt kiến thức dinh dưỡng cao gấp 1,38 lần nhóm có thời gian mắc bệnh > 5 năm (OR = 1,38, 95% CI = 1,05- 2,25 p < 0,001). Nhóm ĐTNC có BMI < 23 không đạt kiến thức về dinh dưỡng cao gấp 2,3 lần so với nhóm có BMI ≥ 23 (OR= 2,3, 95% CI = 1,39 - 2,81).
- Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính, tình trạng hôn nhân, tình trạng dinh dưỡng (BMI) với thực hành dinh dưỡng của ĐTNC với p > 0,05.
- Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi, trình độ học vấn, thời gian mắc ĐTĐ và kiến thức dinh dưỡng với thực hành dinh dưỡng của người bệnh ĐTĐ type 2. Trong đó nhóm ĐTNC có độ tuổi trên 60 tuổi không đạt về thực hành dinh dưỡng cao gấp 1,68 lần so với nhóm có độ tuổi dưới 60 tuổi (OR= 1,68, 95%CI =1,07- 2,62, p < 0,001). Nhóm ĐTNC có trình độ THCS trở xuống không đạt điể
Mục tiêu: Nghiên cứu có mục tiêu đánh giá tình trạng dinh dưỡng và thực trạng nuôi dưỡng người bệnh xơ gan tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2023-2024.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 182 người bệnh xơ gan điều trị nội trú tại Trung tâm Tiêu hóa – Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian từ tháng 4/2023 đến tháng 6/2024. Chẩn đoán suy dinh dưỡng theo BMI, SGA và tiêu chuẩn GLIM. Nghiên cứu kết hợp theo dõi dọc trên 182 người bệnh xơ gan điều trị tại Trung tâm Tiêu hóa - Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai, đánh giá thực trạng nuôi dưỡng vào ngày thứ 2 và ngày thứ 5 kể từ khi nhập viện. Mức độ đạt nhu cầu năng lượng được sử dụng theo tiêu chuẩn của ESPEN khi năng lượng trong khẩu phần ăn ³ 30 kcal/kg/ngày.
Kết quả: Người bệnh chủ yếu thuộc nhóm 40-59 tuổi với 68,7%, giới nam 92,3%, phân loại Child-pugh B và C với 86,8%, xơ gan còn bù 78,6%. Theo BMI, có 29 người bệnh suy dinh dưỡng, chiếm tỉ lệ 15,9%, trong đó 15 người CED-A, 6 người CED-B và chỉ 8 người CED-C. Theo SGA, chủ yếu người bệnh có SGA-B với 50,5%, tiếp theo là SGA-A với 42,3%, thấp nhất là SGA-C 7,1%. Theo phân loại GLIM, tỉ lệ người bệnh suy dinh dưỡng là 37,4%. Không có mối liên quan giữa tuổi, giới, phân loại child-pugh, mức độ xơ gan và tình trạng dinh dưỡng theo GLIM. Kết luận:. Khi vào viện 76,4% người bệnh được nuôi dưỡng qua đường miệng. Giá trị trung bình năng lượng khẩu phần của đối tượng nghiên cứu ở ngày thứ 2 là 1359,5 ± 311,3 kcal/ngày, tăng lên ở ngày thứ 5 là 1509,9 ± 291,7 kcal/ngày. Tỷ lệ người bệnh đạt đủ nhu cầu năng lượng và protein ngày thứ 2 lần lượt là 17,6% và 51,1%. Tăng ở ngày thứ 5 lần lượt là 31,95 và 73,6% (p <0,001). Tỷ lệ người bệnh sử dụng suất ăn bệnh viện ở ngày thứ 2 là 57,7%, tăng lên 66,5% ở ngày thứ 5.
Kết luận: Tỉ lệ người bệnh xơ gan có suy dinh dưỡng theo tiêu chuẩn GLIM là 37,4% và không có mối liên quan với tuổi, giới, phân loại child-pugh, mức độ xơ gan. Tỷ lệ người bệnh đạt đủ nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng còn thấp.
Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của người bệnh suy tim tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2023 – 2024. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 110 người bệnh suy tim từ 18 đến 60 tuổi điều trị nội trú tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Kết quả nghiên cứu: Nhóm tuổi phổ biến là 40 – 60 tuổi (85,5%), nam giới chiếm đa số với tỷ lệ 68,2%. Về chỉ số nhân trắc, BMI (Body Mass Index) trung bình của nam là 24,1 ± 4,0, BMI của nữ là 21,5 ± 3,0, tỷ số vòng eo/vòng mông của nam (0,92 ± 0,06) cao hơn nữ (0,86 ± 0,05), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số khối cơ thể BMI, nghiên cứu cho thấy có 8,2% người bệnh thiếu năng lượng trường diễn, 25,4% thừa cân – béo phì. Theo bộ công cụ đánh giá tổng thể chủ quan SGA (Subjective Global Assessment), tỷ lệ người bệnh có nguy cơ suy dinh dưỡng là 47,3%. Người bệnh có yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, không tập thể dục có nguy cơ suy dinh dưỡng (SDD) cao hơn nhóm người bệnh không có yếu tố nguy cơ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết luận: Tỷ lệ người bệnh suy tim có nguy cơ SDD khá cao. Bên cạnh yếu tố bệnh lý còn có nhiều yếu tố về lối sống ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của người bệnh suy tim.
Mục tiêu: Mô tả tình trạng dinh dưỡng của tiếp viên hàng không tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam năm 2024. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 243 tiếp viên hàng không tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam. Kết quả: Nghiên cứu được thực hiện với sự tham gia của 243 TVHK trong độ tuổi từ 18-59 tuổi, với độ tuổi trung bình là 35,9 8,8, trong đó nam giới chiếm 31,7%. Đối tượng nghiên cứu trong nghiên cứu này có cân nặng trung bình ở nam là 71,6 5,8 kg, ở nữ là 55,8 4,9 kg. Chiều cao trung bình của nam là 173,8 4,6 cm, nữ giới là 163,5 3,8 cm; BMI trung bình của nam giới là 23,8 1,5, cửa nữ giới là 20,9 1,7. Vòng eo trung bình của nam giới là 83,6 4,9, của nữ giới là 75,8 4,8. Tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn (CED) chung là 4,5% (nam chiếm 0,0% thấp hơn so với nữ là 4,5%. Tỷ lệ thừa cân chung là 6,6%, trong đó nam chiếm 5,8% cao hơn so với nữ là 0,8 %. Tỷ lệ béo phì chung là 0,4 % (nam chiếm 0,0% thấp hơn so với nữ là 0,6%. Tỷ lệ béo phì chung (theo phần trăm mỡ cơ thể) là 11,9%, nhóm 30 – 39 tuổi có tỉ lệ cao nhất là 3,7%, tiếp theo nhóm 50 – 59 tuổi là 3,3%, nhóm 40 – 49 tuổi là 2,9%, thấp nhất là nhóm 20 – 29 tuổi chiếm 2,1% (p = 0,002).
Kết luận: Đa số đối tượng nghiên cứu có tình trạng dinh dưỡng bình thường, tỷ lệ TVHK có tỷ lệ thừa cân béo phì theo BMI và theo % mỡ cơ thể chiếm tỷ lệ thấp.
Nghiên cứu: “Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của người bệnh ung thư dạ dày trước và sau phẫu thuật tại Bệnh viện K năm 2023” được tiến hành với 02 mục tiêu:
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh ung thư dạ dày trước và sau phẫu thuật tại Bệnh viện K năm 2023.
Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của người bệnh phẫu thuật ung thư dạ dày tại Bệnh viện K năm 2023.
Đối tượng: Người bệnh được chẩn đoán xác định ung thư dạ dày có chỉ định phẫu thuật cắt dạ dày.
PPNC: Nghiên cứu cắt ngang
Kết quả: Nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của người bệnh ung thư dạ dày trước và sau phẫu thuật tại bệnh viện K cho thấy tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn và suy dinh dưỡng (SDD) đều gia tăng sau phẫu thuật, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Tình trạng giảm cân và giảm sức mạnh cơ bắp cũng nghiêm trọng hơn sau phẫu thuật, với nhiều người bệnh giảm từ 2,6 kg trở lên. Thời gian nằm viện của người bệnh thiếu năng lượng trường diễn dài hơn so với nhóm còn lại. Các yếu tố như giới tính, bệnh đồng mắc, loại phẫu thuật và triệu chứng nôn/buồn nôn có liên quan đến tình trạng dinh dưỡng xấu của người bệnh.
Xác định chỉ số đường huyết của sản phẩm dinh dưỡng Suppro Cerna. Người trường thành khỏe mạnh, Nghiên cứu bán thực nghiệm. Chỉ số đường huyết của sản phẩm dinh dưỡng Suppro Cerna là 27
1. Mục tiêu:
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại xã Bản Vược, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai năm 2023-2024.
- Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại xã Bản Vược, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai năm 2023-2024.
2. Đối tượng: Trẻ dưới 5 tuổi thuộc xã Bản Vược, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai và mẹ/người chăm sóc chính của trẻ dưới 5 tuổi
3. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
4, Kết quả chính:
4.1.Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại xã Bản Vược
Tỷ lệ SDD của trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Bản Vược, huyện Bát Xát còn khá cao, trong đó tỷ lệ SDD thể thấp còi, nhẹ cân, gày còm và thừa cân-béo phì lần lượt là 24,4%, 13,7%; 3,3%; 2%.
4.2. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ
- Các yếu tố liên quan đến SDD thể thấp còi: Trẻ có cân nặng sơ sinh thấp, mẹ làm nông nghiệp, kinh tế thuộc hộ nghèo/cận nghèo, bú mẹ sau 1 giờ, cai sữa trước 18 tháng, ăn bổ sung trước 6 tháng, không ăn đa dạng thực phẩm.
- Các yếu tố liên quan đến SDD thể nhẹ cân: cân nặng sơ sinh thấp, mẹ làm nông nghiệp, kinh tế hộ gia đình nghèo/cận nghèo, bú mẹ sau 1 giờ, không ăn đa dạng thực phẩm.
- Các yếu tố liên quan đến SDD thể gày còm: kinh tế hộ gia đình nghèo/cận nghèo.
Mục tiêu: 1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh lao phổi tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2023 - 2024. 2. Mô tả chế độ nuôi dưỡng của người bệnh lao phổi tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2023 - 2024.
Đối tượng: Người bệnh từ 20 đến 65 tuổi lần đầu được chẩn đoán xác định lao phổi và điều trị tại khoa Lao hô hấp, Bệnh viện Phổi Trung ương.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 135 người bệnh.
Kết quả chính: Tỉ lệ người bệnh lao phổi suy dinh dưỡng tại khoa Lao hô hấp, Bệnh viện Phổi Trung ương theo phân loại BMI là 34,1%, theo phân loại chu vi vòng cánh tay là 35,6%, theo phân loại albumin là 49,5%. Tỉ lệ người bệnh có nguy cơ suy dinh dưỡng theo SGA là 76,3%. Hầu hết người bệnh chưa đáp ứng đủ nhu cầu khuyến nghị về năng lượng, protein, vitamin và các khoáng chất khác.
Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng, thực hành nuôi dưỡng và mô tả một số yếu tố liên quan tới tình trạng dinh dưỡng trẻ từ 6 đến 23 tháng tuổi đến tiêm chủng tại Trung tâm tiêm chủng chất lượng cao Chương Mỹ năm 2023. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 259 trẻ 6 – 23 tháng tuổi. Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở đối tượng nghiên cứu là 13,1% nhẹ cân; 20,1% thấp còi và 4,2% gầy còm. Cụ thể ở thể SDD nhẹ cân thì có 10,8% SDD mức độ vừa, 2,3% SDD mức độ nặng; SDD thấp còi mức độ vừa là 13,5%, SDD thấp còi mức độ nặng là 6,6%; SDD gầy còm mức độ vừa là 2,3%, SDD gầy còm mức độ nặng là 1,9%. Tỷ lệ SDD theo giới tính nam và nữ lần lượt là SDD nhẹ cân là 15,7% và 10,1%; SDD gầy còm là 5,7% và 2,5%, SDD thấp còi là 20,0% và 20,2%. Tỷ lệ SDD theo nơi sinh sống (thành thị và nông thôn), tương ứng với tỷ lệ SDD nhẹ cân là 15,6% và 12,6%; SDD thấp còi là 26,7% và 18,7% và SDD gầy còm là 4,4% và 4,2%. Trẻ sinh thường có khả năng SDD nhẹ cân gấp 2,6 lần so với trẻ sinh mổ (95%CI: 1,0-6,4, p<0,05). Trẻ có bà mẹ ăn kiêng khi mang thai có khả năng SDD nhẹ cân gấp 3,6 lần bà mẹ không ăn kiêng khi mang thai (95%CI: 1,3-10,2); SDD thấp còi cao gấp 4,1 lần bà mẹ không ăn kiêng khi mang thai (95%CI: 1,5-11,3) với p<0,05. Trẻ có bà mẹ ăn kiêng khi trong thời gian cho con bú khả năng SDD nhẹ cân gấp 2,7 lần bà mẹ không ăn kiêng khi trong thời kì cho con bú (95%Cl: 1,0-7,1 nguy cơ sinh con SDD gầy còm cao gấp 18,1 lần nhóm bà mẹ không ăn kiêng trong thời kì cho con bú (95%Cl: 2,5-130,7) với p<0,05. Nhóm trẻ không bú SMHT trong 6 tháng đầu có nguy cơ SDD nhẹ cân bằng 0,4 lần (95%CI: 0,2 – 0,8) so với nhóm có bú SMHT trong 6 tháng đầu.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 149 người bệnh thận mạn có lọc máu chu kỳ với hai mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và mô tả một số yếu tố liên quan với tình trạng dinh dưỡng của người mắc bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm 2023- 2024.
Kết quả chính:
1. Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu
- Tỷ lệ người bệnh Suy dinh dưỡng theo chỉ số khối cơ thể BMI là 18,9%
- Tỷ lệ người bệnh Suy dinh dưỡng theo phương pháp SGA-DMS là 80,3%.
- Tỷ lệ người bệnh Suy dinh dưỡng theo nồng độ albumin huyết thanh là 65,1%.
- Tỷ lệ người bệnh mắc CKD trên 5 năm và tỷ lệ lọc máu >2 năm có suy dinh dưỡng chiếm tỷ lệ cao nhất.
- Tỷ lệ các bệnh đồng mắc trên đối tượng bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ là khá cao. Có tới 46,2% người bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ mắc kèm bệnh Tăng huyết áp và 12,4% mắc kèm bệnh Đái tháo đường.
- 100% người bệnh đều có thiếu máu từ mức độ nhẹ đến nặng.
Có sự khác nhau khi đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng chỉ số khối cơ thể BMI, điểm SGA- DMS và các chỉ số sinh hóa.
Theo phương pháp SGA-DMS, tỷ lệ suy dinh dưỡng tăng cao khi người bệnh có thời gian mắc bệnh thận mạn và thời gian lọc máu kéo dài.
2. Các yếu tố liên quan với tình trạng dinh dưỡng
Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan nghịch biến giữa điểm SGA-DMS và nồng độ Albumin huyết thanh khi điểm SGA-DMS càng tăng thì albumin càng giảm (r=-0,2765, p=0,0007). Trong khi đó mối tương quan giữa điểm SGA- DMS và tuổi là mối tương quan đồng biến, với tuổi càng cao thì điểm SGA-DMS càng cao (r=0,2490, p= 0,0023).
Không có mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học với tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân theo chỉ số khối cơ thể BMI và điểm SGA (p>0,05).
Có mối liên quan giữa yếu tố giới tính và chỉ số khối BMI, yếu tố bệnh đồng mắc, thời gian mắc bệnh và thời gian lọc máu với điểm SGA- DMS với p<0,05. Chưa tìm thấy các yếu tố có liên quan đến chỉ số sinh hoá gồm albumin huyết thanh và huyết sắc tố.
Mục tiêu
1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh ung thư phổi giai đoạn IV điều trị hóa chất tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội năm 2023-2024
2. Mô tả chất lượng cuộc sống ở người bệnh ung thư phổi phổi giai đoạn IV điều trị hóa chất tại bệnh viện Ung bướu Hà Nội năm 2023-2024.
Đối tượng
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Người bệnh độ tuổi từ 20 đến 65 được chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học ung thư phổi giai đoạn IV điều trị hóa chất đơn thuần và chưa từng điều trị phương pháp khác: xạ trị, phẫu thuật... Người bệnh được giải thích đầy đủ và đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Người bệnh trong tình trạng cấp cứu, huyết động không ổn định, không đứng vững trên bàn cân hoặc không đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của đo chiều cao của người trưởng thành.
Phương pháp
- Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2023.
Địa điểm nghiên cứu: Khoa Nội I và Khoa Nội tổng hợp theo yêu cầu Bệnh viện Ung bướu Hà Nội.
Cỡ mẫu nghiên cứu:
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính cho một tỷ lệ:
n=Z_(1-α/2)^2 (p(1-p))/d^2
Trong đó:
n : Cỡ mẫu nghiên cứu cần có
α : Mức ý nghĩa thống kê. Lấy giá trị α = 0,05
Z(1-/2) = 1,96 (với giá trị α = 0,05, độ tin cậy 95%)
p: Tỉ lệ người bệnh ung thư phổi giai đoạn IV có suy dinh dưỡng theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Thái và cộng sự6 là 80.2% (p = 0,802 thì (1-p) = 0,198).
d: Sai số cho phép lấy d=0,06
Cỡ mẫu tính được làm tròn là : 170 BN.
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện.
Kết quả
1. Tình trạng dinh dưỡng theo nhân trắc
Kết quả phân loại tình trạng dinh dưỡng theo BMI cho thấy tỉ lệ thiếu năng lượng trường diễn với cả 2 ngưỡng phân loại là như nhau, là 48,8% chung cho cả 2 giới, trong đó ở nam cao hơn nữ (lần lượt là 51,9% và 39%).
Theo phân loại PG-SGA, số người không có nguy cơ dinh dưỡng (PG-SGA mức độ A) chỉ chiếm 4,1%, suy dinh dưỡng mức độ vừa (PG-SGA mức độ B) chiếm đa số với 62,4% và suy dinh dưỡng nặng chiếm 33,5%.
Nồng độ Albumin huyết thanh ở nhóm PG-SGA C là 29,4 ± 4,2 g/l; ở nhóm PG-SGA B là 37,1 ± 76 g/l; và nhóm PG-SGA A là 43,7±3,2 g/l (p=0,001). Nồng độ Hemoglobin máu ở nhóm PG-SGA A là 130,4 ±9,9 g/l và nhóm PG-SGA C là 103,8 ±17,2 g/l (p =0,000).
Chỉ số toàn trạng ECOG
Điểm ECOG trung bình là 1.21 ± 0.73. Đối tượng có điểm ECOG=1 chiếm tỉ lệ cao nhất 64,1%, thấp nhất là điểm ECOG=3, phản ánh người bệnh chỉ có khả năng tự chăm sóc hạn chế, nằm trên giường hoặc ghế hơn 50% số giờ thức.
2. Chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu.
Có 40,6% người bệnh ho ít, 25,9% ho nhiều và chỉ có 5,3% người bệnh ho rất nhiều. Hầu hết người bệnh không gặp triệu chứng ho ra máu (89,4%). Có 67,1% số người bệnh có khó thở mức độ ít và 2,9% người bệnh có khó thở rất nhiều. Gần một nửa số người bệnh có triệu chứng đau ngực (46,5%), 38,2% người bệnh có đau ở các vị trí khác và 21,2% người bệnh phải sử dụng thuốc giảm đau.
Tỷ lệ người bệnh rụng tóc mức độ ít là 47,1%, nhiều là 14,1% và rất nhiều là 2,4%. Tỷ lệ người bệnh viêm miệng và lưỡi mức độ ít là 14,7%. Tỷ lệ người bệnh bị khó nuốt mức độ ít là 21,8%, nhiều là 5,9% và rất nhiều là 0,6%.
Về vấn đề triệu chứng ho, khó thở có điểm cao nhất lần lượt là: 36,1 ± 28,9 và 29,0 ± 23,0. Điểm triệu chứng đau ngực là 23,5 ± 29,2 và đau ở vị trí khác 18,8 ± 27,4 . Ho ra máu có điểm thấp nhất là 4,3 ± 13,4.
Tác dụng phụ rụng tóc có điểm cao nhất 27,5 ± 25,2 . Khó nuốt và ngứa tay, bàn chân có điểm gần như nhau lần lượt là 11,8 ± 20,6 và 11,4 ± 18,5. Viêm miệng và lưỡi có điểm thấp nhất 6,5 ± 15,1.
Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của sinh viên cử nhân Dinh dưỡng và cử nhân Y tế công cộng Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch năm 2023.
Đối tượng: Sinh viên ngành cử nhân Dinh dưỡng và cử nhân Y tế công cộng Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang
Kết quả: Tỉ lệ SV ở mức CED và TCBP còn cao, lần lượt là 24% và 20%. Tỉ lệ SV có tình trạng dinh dưỡng ở mức bình thường phân loại theo BMI là 56%. Giá trị trung bình BMI của đối tượng nghiên cứu là 21,8 ± 4,7 kg/m2, nằm trong giới hạn bình thường theo phân loại của WHO năm 2000. Giá trị trung bình phần trăm mỡ cơ thể của đối tượng nghiên cứu là 24,8 ± 8,4%, ở SV nam là 19,6 ± 7,0 % và SV nữ là 27,7 ± 7,9 %. Một số yếu tố có liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của SV: giới tính, ngành học, nơi ở hiện tại, mức độ HĐTL, thời gian tĩnh tại.
This study aims to assess the nutritional status and actual diet of heart failureat the Cardiology Center of E Hospital in 2023-2024. This is a cross-sectional study conducted on 110 in patients with heart failure at the Cardiology Center of E Hospital, aged from 18 to 65. Research variables included age, gender, and education level serum albumin, and NYHA heart failure classification; and nutritional status assessed through BMI and SGA. Results 49.1% of patients were at mild to moderate risk of malnutrition (SGA–B), and 8.2% were at severe risk of malnutrition (SGA–C), while 42.7% were not at risk of malnutrition (SGA–A). The prevalence of underweight patients was 20%, overweight patients was 21.8%, and obesity was 7.3%, according to BMI classification. The proportion of heart failure patients meeting the recommended energy reached 74.5%; glucid reached 89.1%; protein reached 64.5%; lipid reached 69.1%.
Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh
dưỡng của người bệnh ung thư đại trực tràng trước phẫu thuật.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 105 người bệnh được chẩn đoán xác định
mắc ung thư đại trực tràng đang điều trị tại Khoa Ngoại chung Bệnh viện Vinmec Times
City với thời gian thu thập số liệu từ tháng 12/2023 đến tháng 2/2024. TTDD được đánh
giá theo bộ công cụ PG-SGA và theo phân loại BMI của Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
dành cho người châu Á.
Kết quả: Tỉ lệ suy dinh dưỡng (SDD) theo PG-SGA và theo BMI là 41,0% và 30,5%.
Theo PG-SGA, tăng khả năng bị SDD ở nhóm đối tượng ≥ 60 tuổi so với nhóm < 60 tuổi
(OR= 3,8; p=0,007), mắc ung thư đại tràng so với nhóm mắc ung thư trực tràng (OR=5,9;
p=0,001), ung thư đại trực tràng giai đoạn 3, 4 so với giai đoạn 1, 2 (OR=9,0; p=0,008),
có so với nhóm không hóa, xạ trị trước phẫu thuật (OR=3,1; p=0,042). Theo BMI, tăng
khả năng bị SDD ở nhóm bệnh nhân mắc ung thư đại tràng so với nhóm mắc ung thư
trực tràng (OR=4,3; p=0,010).
Kết luận: Suy dinh dưỡng là vấn đề phổ biến ở người bệnh ung thư trực tràng trước
phẫu thuật. Các yếu tố liên quan đến TTDD của người bệnh ung thư đại trực tràng là
tuổi, loại ung thư, giai đoạn bệnh, hóa xạ trị trước phẫu thuật.
Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ mà là một cơ thể đang lớn lên và phát triển. Dinh dưỡng lại là cửa sổ cơ hội và lập trình sức khỏe cho trẻ do không chỉ ảnh hưởng tại thời điểm can thiệp mà còn có thể gây ảnh hưởng suốt đời trong nhiều khía cạnh khác nhau. Việc thiếu hay thừa dinh dưỡng có thể mang lại những mối nguy hại cho sức khỏe. Dinh dưỡng hợp lý trong giai đoạn đầu đời tạo nền tảng cho sự phát triển trí não, tăng cường miễn dịch và phát triển khỏe mạnh lâu dài.
Đặt vấn đề: Dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng trong đời sống hàng ngày của mỗi con người. Mỗi con người là một cá thể do đó nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng của mỗi người là khác nhau, đặc biệt ở phụ nữ mang thai. Tai Việt Nam: năm 2020, tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở nữ giới là 18,5%, đặc biệt cao ở nhóm nữ trong độ tuổi sinh sản (20-30 tuổi) là 22,9-27,7%. Mối liên quan giữa những trẻ là con của bà mẹ có BMI thấp (<18,5 kg/m2) thường có tỷ lệ thấp còi cao hơn (32,6%) so với những trẻ là con của bà mẹ có BMI cao hơn (chiếm 20,6%). Tại Nghệ An: diện tích lớn nhất và dân số đứng thứ 4 cả nước. Nghệ An là trung tâm văn hóa, kinh tế quan trọng của vùng và cả nước. Tuy nhiên các vấn đề về sức khỏe toàn dân nói chung và phụ nữ mang thai nói riêng chưa được quan tâm và nghiên cứu nhiều. Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu 1: Mô tả khẩu phần thực tế của phụ nữ mang thai khám tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Nghệ An năm 2023 - 2024. Mục tiêu 2: Mô tả kiến thức, thực hành dinh dưỡng của phụ nữ mang thai khám tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Nghệ An năm 2023 -2024.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu :Phụ nữ mang thai đến khám thai lần 1 tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Nghệ An (Phòng khám Sức khỏe sinh sản) trong thời gian nghiên cứu.
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
Cỡ mẫu nghiên cứu:
n=〖Z^2〗_(1-α/2) (p(1-p))/d^2
p: là tỷ lệ phụ nữ hiểu biết đúng về chế độ ăn hợp lý theo nghiên cứu của Nguyễn Hương Giang (p = 0,46)
Áp dụng công thức trên, tính được n = 266
Cỡ mẫu điều tra khẩu phần:
Sử dụng công thức: n=(z^2 x δ^2 x N)/(e^2 xN+ z^2 x δ^2 )
δ: Độ lệch chuẩn của nhiệt lượng trung bình ăn vào (dựa trên cuộc tổng điều tra dinh dưỡng 2019 - 2020 của VDD, lấy là 587 Kcal).
N: Tổng số phụ nữ mang thai tham gia nghiên cứu theo tính toán cỡ mẫu điều tra cắt ngang (266 người).
e: Sai số cho phép (chọn là 100 Kcal).
Thay vào công thức tính được n = 65 phụ nữ mang thai điều tra khẩu phần
MỘT SỐ KẾT QUẢ CỦA NGHIÊN CỨU
Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và dân tộc (n=266)
Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ (%)
Nhóm tuổi 20-24 14 5,3
25-29 60 22,6
30-34 102 38,3
≥ 35 90 33,8
X ̅ ± SD 32,6 ± 5,1
Dân tộc Kinh 243 91,3
Khác 23 8,7
Kết quả bảng cho thấy độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 32,6 ± 5,1 tuổi, trong đó nhóm tuổi 30-34 chiếm tỷ lệ cao nhất với 38,3%. Đa số đối tượng dân tộc kinh (91,3%)
Giá trị dinh dưỡng của các chất sinh năng lượng trong khẩu phần của đối tượng nghiên cứu theo nơi sinh sống
Chất sinh năng lượng Thành thị
(n=42) Nông thôn
(n=23) Chung
(n=65) p
NLKP (Kcal) 1526,9 ± 270,0 1378,2 ± 317,3 1474,3 ± 294,0 <0,05
Protein (g) 75,5 ± 21,5 76,9 ± 19,2 76,0 ± 20,6 >0,05
Lipid (g) 50,6 ± 19,4 41,7 ± 16,3 47,4 ± 18,7 >0,05
Glucid (g) 191,8 ± 37,2 163,8 ± 37,5 181,9 ± 39,4 <0,05
Nhận xét: Theo bảng giá trị năng lượng khẩu phần của đối tượng nghiên cứu đạt 1474,3 ± 294,0 Kcal; trong đó đối tượng sống tại khu vực thành thị 1526,9 ± 270,0 Kcal cao hơn có ý nghĩa thống kê so với khu vực nông thôn 1378,2 ± 317,3 (p<0,05). Ngoài năng lượng khẩu phần, sự khác biệt về giá trị Glucid khẩu phần của đối tượng sống tại thành thị (191,8 ± 37,2 g) và nông thôn (163,8 ± 37,5 g) cũng có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Đánh giá kiến thức chung của đối tượng nghiên cứu theo nơi sinh sống
Kiến thức chung Thành thị
(n=204) Nông thôn
(n=62) Chung
(n=266) p
SL % SL % SL %
Đạt 149 73,0 28 45,2 177 66,5 <0,05
Không đạt 55 27,0 34 54,8 89 33,5
Đánh giá thực hành chung của đối tượng nghiên cứu theo nơi sinh sống
Thực hành chung Thành thị
(n=204) Nông thôn
(n=62) Chung
(n=266) p
SL % SL % SL %
Đạt 115 56,4 30 48,4 145 54,5 >0,05
Không đạt 89 43,6 32 51,6 121 45,5
KẾT LUẬN: Khẩu phần thực tế của đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu đánh giá khẩu phần thực tế của 65 phụ nữ mang thai khám tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Nghệ An cho thấy giá trị năng lượng khẩu phần của đối tượng nghiên cứu là 1474,3 ± 294,0 Kcal/ngày; giá trị Protein là 76,0 ± 20,6 g/ngày; Lipid là 47,
Hiện nay, nhiều quốc gia đang có sự chuyển dịch về phân bố tuổi dân số từ trẻ sang già và già hóa dân số trở thành một hiện tượng toàn cầu. Suy giảm chức năng vị giác ở người cao tuổi là một vấn đề phổ biến, đồng thời là một thách thức đối với sức khỏe cộng đồng vì chúng có thể gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe (tăng nguy cơ suy dinh dưỡng và ngộ độc thực phẩm) và chất lượng cuộc sống của họ. Việc đánh giá vị giác và cấu trúc thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì chế độ ăn uống lành mạnh và đảm bảo sự thỏa mãn từ bữa ăn cho nhóm đối tượng này. Các nghiên cứu về đánh giá vị giác và cấu trúc thực phẩm được sử dụng cho người cao tuổi có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những thay đổi cảm quan thực phẩm và phát triển các chiến lược dinh dưỡng và chăm sóc phù hợp để đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi. Nằm trong bối cảnh của sự gia tăng dân số già, việc chăm sóc dinh dưỡng cho người cao tuổi ngày càng được quan tâm và chú trọng, đặc biệt trong môi trường chăm sóc đặc thù là các viện dưỡng lão, tuy nhiên các nghiên cứu đánh giá vị giác và cấu trúc thực phẩm của người cao tuổi sử dụng các thang đo đánh giá ngắn gọn trên thế giới cũng như ở Việt Nam còn hạn chế, nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài nghiên cứu “Mô tả hình thức bữa ăn và vị giác của người cao tuổi tại trung tâm chăm sóc người cao tuổi Tuyết Thái thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2023” với các mục tiêu nghiên cứu sau:
Mục tiêu nghiên cứu
1. Mô tả hình thức bữa ăn của người cao tuổi tại trung tâm chăm sóc người cao tuổi Tuyết Thái thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2023.
2. Đánh giá vị giác của người cao tuổi và một số yếu tố liên quan tại trung tâm chăm sóc người cao tuổi Tuyết Thái thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2023.
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng được lựa chọn tham gia nghiên cứu là: người cao tuổi đang được chăm sóc tại Trung tâm điều dưỡng người cao tuổi Tuyết Thái, huyện Đông Anh, Hà Nội, với các tiêu chuẩn bao gồm:
Tiêu chuẩn lựa chọn
Người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên.
Đối tượng có tình trạng sức khỏe tốt, tỉnh táo, có khả năng giao tiếp tốt và trả lời bảng hỏi bình thường.
Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
Người cao tuổi bị các khuyết tật trên cơ thể không thuận lợi để tiến hành đo chỉ số nhân trắc như gù, cụt chân, các trường hợp đi đứng khó khăn...
Người cao tuổi quá già yếu, khiếm thính, khiếm thị, đang điều trị bệnh nặng không thể tham gia nghiên cứu.
Người cao tuổi mắc các bệnh lý không thể trả lời phỏng vấn (như Alzheimer, rối loạn tâm thần…).
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang.
Phương pháp chọn mẫu toàn bộ
Kết quả chính
1. Mô tả hình thức bữa ăn của người cao tuổi tại trung tâm chăm sóc người cao tuổi Tuyết Thái thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2023.
Trong tổng số 100 người cao tuổi tham gia nghiên cứu, theo phân loại của MNA-SF, tỷ lệ người cao tuổi bị suy dinh dưỡng chiếm 37,0%, nguy cơ suy dinh dưỡng chiếm 49,0% và chỉ có 14,0% người cao tuổi tham gia nghiên cứu có dinh dưỡng bình thường. Trong số nhưng người bị suy dinh dưỡng, tỷ lệ người cao tuổi có hình thức bữa ăn xay lỏng chiếm tới 29,7%, xay nhuyễn (súp) chiếm 13,5% và mềm, miếng vừa ăn chiếm 18,9%. Giá trị p < 0,001 cho thấy kết quả có ý nghĩa thống kê. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, người cao tuổi có nhiều hơn hai bệnh lý kèm theo có hình thức bữa ăn xay lỏng (40,9%) cao hơn so với người cao tuổi có ít hơn hai bệnh lý kèm theo (5,1%).
2. Đánh giá vị giác và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại trung tâm chăm sóc người cao tuổi Tuyết Thái thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2023.
Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số người cao tuổi tham gia nghiên cứu cho biết có cảm giác thèm ăn ở mức trung bình trở lên, tỷ lệ người cao tuổi cho biết cảm giác thèm ăn ở mức kém chiếm 30,0%, có cảm giác vị thực phẩm ở mức tệ chiếm 21,0%. Theo phân loại bảng hỏi đánh giá vị giác SNAQ, tỷ lệ người cao tuổi có nguy cơ giảm cân dưới 5% chiếm 30,0% và có nguy cơ giảm cân ít nhất 5% chiếm 70,0%.
Từ kết quả hồi quy đơn
Dinh dưỡng trong từng giai đoạn có những tác động đến sự phát triển của một đứa trẻ từ trong giai đoạn bào thai cho đến khi trưởng thành1. Những giai đoạn quan trọng quyết định đến sự phát triển của mỗi con người là giai đoạn bào thai, trẻ dưới 2 tuổi. Trong giai đoạn này trẻ có nhu cầu rất lớn về dinh dưỡng cần thiết giúp trẻ tăng trưởng phát triển về thể chất và dần hoàn thiện chức năng các cơ quan, bộ phận. Việc nuôi dưỡng trẻ thời kỳ này đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến tương lai của đứa trẻ sau này. Nếu được chăm sóc và nuôi dưỡng đầy đủ thì trẻ sẽ phát triển tốt, ít ốm đau bệnh tật. Ngược lại, nếu trẻ không được nuôi dưỡng hợp lý và đúng cách có thể dẫn đến suy dinh dưỡng (SDD) và nhiều bệnh tật liên quan.
Suy dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển tinh thần, trí tuệ và để lại hậu quả nặng nề cho xã hội1. Mọi lứa tuổi đều có nguy cơ suy dinh dưỡng nhưng thường gặp nhất là ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt là nhóm trẻ trong giai đoạn dưới 24 tháng tuổi.
Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và mô tả khẩu phần ăn thực tế ở người bệnh bệnh thận mạn giai đoạn cuối đang lọc máu chu kỳ. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 103 người bệnh bệnh thận mạn giai đoạn cuối đang lọc máu chu kỳ tại Khoa Nội thận – Lọc máu, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo BMI là 9,7%; tỷ lệ suy dinh dưỡng theo SGA-DMS là 69,9%; tỷ lệ người bệnh có albumin huyết thanh thấp là 17,8%. Năng lượng tiêu thụ trung bình là 1257±294,5 kcal/ngày. Lượng protein ăn vào trung bình là 57,9±21,5 g/ngày. Tỷ lệ chất sinh năng lượng P:L:G là 18,4%:20,8%:60,8% và phần lớn năng lượng được cung cấp là từ Glucid. Tỷ lệ protein động vật/protein tổng số là 57,2% và lipid thực vật/lipid tổng số là 32,3%. Tỷ lệ Canxi/Phốt pho là 0,4. Kết luận: Tỷ lệ người bệnh bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ bị rối loạn dinh dưỡng khá cao, khẩu phần ăn thực tế chưa đáp ứng được nhu cầu khuyến nghị về năng lượng và một số chất dinh dưỡng. Vì vậy, cần phối hợp và theo dõi thường xuyên hơn tình trạng dinh dưỡng, tư vấn dinh dưỡng cho người bệnh.
Nghiên cứu thực hiện trên người bệnh cao tuổi mắc COPD với 02 mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng, Sarcopenia của người bệnh cao tuổi mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM năm 2023 - 2024 và Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng, Sarcopenia của người bệnh cao tuổi mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM năm 2023 - 2024. Với thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 251 người bệnh cao tuổi mắc COPD tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM ghi nhận kết quả:
- Tỷ lệ sarcopenia theo AWGS 2019: 59,8%
- Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo GLIM: 53,8%
- Tỷ lệ hội chứng suy dinh dưỡng – sarcopenia: 47,0%
Các yếu tố liên quan được tìm thấy trong nghiên cứu:
- Các yếu tố liên quan đến tình trạng sarcopenia gồm: tuổi, khối khoáng xương, góc Pha và tình trạng hút thuốc lá.
- Các yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng gồm: tuổi, khối khoáng xương, năng lượng chuyển hoá cơ bản/ cân nặng và góc Pha.
- Các yếu tố liên quan đến hội chứng suy dinh dưỡng – sarcopenia gồm: tuổi, khối khoáng xương, năng lượng chuyển hoá cơ bản/ cân nặng và góc Pha.
|