Mục tiêu: Mô tả thực trạng cung ứng dịch vụ phòng chống lao và các yếu tố liên quan của các trạm y tế xã tại tỉnh Nghệ An năm 2023.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 401/460 trạm y tế xã tại tỉnh Nghệ An.
Kết quả: Kết quả của nghiên cứu cho thấy hơn 90% trạm y tế xã tham gia nghiên cứu ở khu vực nông thôn (57,61%) và miền núi (32,42%). Tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ chỉ chiếm 74,12% và chỉ có 39,65% trạm y tế có chẩn đoán lao, phương pháp chuẩn đoán lao phổ biến nhất hiện nay tại các trạm y tế xã tại Nghệ An đó là triệu chứng lâm sàng (98,74%). Tỷ lệ thuốc sẵn có tại cả 3 khu vực còn thấp và khác biệt giữa các khu vực là không có ý nghĩa thống kê.
Kết luận: Thực trạng khả năng cung ứng dịch vụ phòng chống lao của tỉnh Nghệ An còn nhiều hạn chế về mặt nhân lực, chẩn đoán, điều trị, cơ sở vật chất, sinh phẩm và thuốc
Nghiên cứu thực hiện với mục tiêu đánh giá hoạt động phòng chống lao tại Sơn La trong thời kỳ dịch COVID-19 năm 2020 - 2022. Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện tại tỉnh Sơn La từ tháng 04 năm 2022 đến tháng 11 năm 2023. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh lao mới mắc trung bình bằng với tỷ lệ hiện mắc trung bình của tỉnh Sơn La là 27/100.000 người dân. Tỷ lệ người bệnh lao phổi là chủ yếu, chiếm tỷ lệ cao hơn đáng kể so với tỷ lệ người bệnh lao ngoài phổi. Tỷ lệ người bệnh lao được quản lý chủ yếu là người bệnh lao mới (>98%). Tỷ lệ người bệnh được điều trị khỏi và hoàn thành nhìn chung chiếm tỷ lệ cao, tuy nhiên giảm so với giai đoạn trước đại dịch COVID-19 bùng phát. Mặc dù COVID-19 đã gây ra những gián đoạn trong công tác phòng chống lao không nhỏ, nhưng tại đây vẫn cố gắng duy trì công tác phòng chống lao đạt kết quả tốt.
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Mô tả thực trạng tử vong do tai nạn lao động tại tỉnh Lạng Sơn năm 2020.
2. Đánh giá hệ thống ghi nhận tử vong do tai nạn lao động tại tỉnh Lạng Sơn năm 2020.
Đối tượng nghiên cứu
Các trường hợp tử vong do TNLĐ ghi nhận tại tỉnh Lạng Sơn, trong thời gian từ 01/01/2020 đến 31/12/2020 được lấy từ sổ tử vong A6/YTCS
Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
Kết quả nghiên cứu Tình trạng tử vong do TNLĐ thống kê ghi nhận được trên địa bàn toàn tỉnh Lạng Sơn chỉ chiếm 1,3% so với tình trạng tử vong do các nguyên nhân khác.
Tỉ lệ tử vong do TNLĐ của nữ thấp chiếm 32,4% gần bằng một nửa so với nam 67,6%. Với tổng số tử vong TNLĐ là 71 người thì có 23 nữ và 48 nam.
Tỉ lệ tử vong do TNLĐ trong ngành nông nghiệp là chủ yếu chiếm 91,6%.
Kết quả cho thầy tỷ lệ tử vong do tai nạn lao động có xu hướng giảm vào nửa đầu năm nhưng đến nửa cuối năm số lượng tử vong tăng cao
Tử vong do tai nạn lao động có sự khác biệt rõ rệt theo mùa tập trung chủ yếu vào mùa hạ và mùa đông, mỗi mùa chiếm tỷ lệ 32,4% (23 trường hợp). Mùa xuân có số ca tử vong thấp hơn, chiếm 21,1% (15 trường hợp). Mùa thu ghi nhận tỷ lệ thấp nhất, chỉ 14,1% (10 trường hợp).
Tỷ lệ tử vong do tai nạn lao động ở nam giới là 11,86/100.000 dân, cao gấp khoảng 2,2 lần so với nữ giới (5,51/100.000 dân). Điều này cho thấy nam giới có nguy cơ tử vong do tai nạn lao động cao hơn, có thể do họ thường tham gia vào các công việc nặng nhọc, nguy hiểm hơn so với nữ giới.
Tuổi trung bình của các trường hợp tử vong là 41,44 tuổi, với nam giới là 41,27 tuổi và nữ giới là 41,78 tuổi, cho thấy không có sự chênh lệch đáng kể giữa hai giới. Tuổi lớn nhất ghi nhận là 83 tuổi (nam), và tuổi nhỏ nhất là 18 tuổi (nam).
Tử vong trong quá trình lao động mà nguyên nhân do ngã cao nhất ở cả 2 giới, đối với nam là 10 trường hợp (chiếm 20,4%), đối với nữ là 8 trường hợp (chiếm 36,4% ).
Tử vong do TNLĐ ghi nhận ở ngành y tế cao hơn ghi nhận do Sở Lao động Thương binh và Xã hội
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Mô tả thực trạng công tác quan trắc môi trường lao động tại Bệnh viện đa khoa huyện Mê Linh năm 2023.
2. Phân tích một số khó khăn, thách thức trong công tác quan trắc môi trường lao động tại Bệnh viện đa khoa huyện Mê Linh năm 2023 và đề xuất giải pháp.
Đối tượng nghiên cứu bao gồm:
Người phụ trách công tác quan trắc môi trường lao động
Báo cáo quan trắc môi trường lao động
Hồ sơ vệ sinh lao động
Phương pháp nghiên cứu:
Thiết kế nghiên cứu là mô tả cắt ngang, kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng.
Kết quả chính:
Bệnh viện có thực hiện quan trắc môi trường lao động với tần suất 1 lần/năm, các kết quả quan trắc môi trường lao động đều nằm trong giới hạn cho phép tuy nhiên chưa thực hiện quan trắc đầy đủ các yếu tố có hại như: Formaldehyde, bức xạ tử ngoại (UV), thực hiện đánh giá tâm sinh lý lao động và Ec-gô-nô-my (mới được 01/03 nhóm yếu tố theo quy định), chưa thực hiện đánh giá tiếp xúc nghề nghiệp.
Bệnh viện chưa thực hiện việc công khai kết quả quan trắc môi trường lao động cũng như chưa thực hiện công tác báo cáo với các đơn vị chức năng theo quy định
1. MỤC TIÊU:
(1). Đánh giá kết quả áp dụng chiến lược 2X trong hoạt động phát hiện chủ động bệnh Lao tại cộng tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2020 - 2023
(2). Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát hiện chủ động bệnh lao theo chiến lược 2X tại cộng đồng tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2020 - 2023
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Cán bộ phụ trách CTCLQG tại các đơn vị tuyến huyện, thành.
- Cán bộ y tế (CBYT) xã phụ trách CTCL của các xã, phường, thị trấn.
- Người dân được khám phát hiện chủ động bệnh lao theo chiến lược 2X tại cộng đồng từ tháng 05/2023 – 10/2023.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu định lượng được tiến hành tại cộng đồng người dân có nguy cơ mắc lao tại toàn bộ các xã thuộc các huyện được triển khai hoạt động phát hiện chủ động bệnh lao bằng chiến lược 2X.
- Nghiên cứu định tính được tiến hành tại Bệnh viện Phổi, huyện Phú Bình và Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên, kết hợp trong chương trình khám phát hiện chủ động bệnh lao bằng chiến lược 2X năm 2023.
2.2.2. Thời gian nghiên cứu:
- Từ tháng 03/2023 đến tháng 10/2024. Trong đó:
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang
Phương pháp nghiên cứu: kết hợp định lượng với định tính.
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang định lượng:
+ Nghiên cứu tiến hành điều tra thực địa nhằm xác định thực trạng phát hiện chủ động bệnh lao theo chiến lược 2X tại cộng đồng tỉnh Thái Nguyên năm 2023.
+ Nghiên cứu hồi cứu các số liệu sẵn có nhằm xác định thực trạng phát hiện chủ động bệnh lao theo chiến lược 2X tại cộng đồng tỉnh Thái Nguyên từ năm 2020 - 2022.
- Nghiên cứu định tính: tiến hành nghiên cứu điều tra thực địa nhằm bổ sung, phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát hiện chủ động bệnh lao theo chiến lược 2X tại cộng động tỉnh Thái Nguyên. Phỏng vấn sâu đối với cán bộ lãnh đạo của hệ thống y tế từ tỉnh đến huyện, cán bộ phụ trách CTCLQG tại các đơn vị tuyến huyện, thành; cán bộ y tế xã phụ trách CTCL của các xã, phường, thị trấn; người dân được khám phát hiện chủ động bệnh lao theo chiến lược 2X tại cộng đồng trong thời gian nghiên cứu.
2.3.2. Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu
2.3.2.1. Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng:
- Cỡ mẫu đánh giá tình hình phát hiện bệnh lao chủ động theo chiến lược 2X tại cộng đồng tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2020 - 2023: 43.139 người dân tham gia khám sàng lọc phát hiện bệnh lao bằng chiến lược 2X từ 2020-2023 tại các địa phương được lựa chọn thực hiện chương trình.
- Cỡ mẫu điều tra tình hình nhân lực tham gia hoạt động phát hiện chủ động bệnh lao theo chiến lược 2X tại cộng đồng: 321 cán bộ y tế từ tuyến tỉnh, huyện, xã tham hoạt động phát hiện chủ động bệnh lao theo chiến lược 2X tại cộng đồng giai đoạn 2020-2023.
2.3.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu định tính:
Mẫu có chủ đích (thực hiện phỏng vấn thu thập thông tin đến khi đạt mục tiêu).
2.3.2.3. Phương pháp chọn mẫu
- Chọn mẫu cho nghiên cứu định lượng: chọn mẫu toàn bộ (chọn toàn bộ các đối tượng thoả mãn nhu cầu nghiên cứu).
- Chọn mẫu cho nghiên cứu định tính: chọn mẫu chủ đích
+ Chọn huyện: chọn chủ đích 2 huyện triển khai hoạt động phát hiện chủ động bệnh lao theo chiến lược 2X tại cộng đồng năm 2023 đó là huyện Phú Bình và huyện Phú Lương.
+ Chọn xã: toàn bộ 36 xã thuộc 2 huyện triển khai hoạt động phát hiện chủ động bệnh lao theo chiến lược 2X tại cộng đồng năm 2023 (huyện Phú Bình 21 xã, huyện Phú Lương 15 xã).
2.3.2.4. Tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu:
Theo hướng dẫn lựa chọn hồ sơ đối tượng khám sàng lọc từ hướng dẫn triển khai chiến lược 2X của CTCLQG.
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Những người sống tại khu vực mà chiến lược 2X triển khai
+ Nhóm nguy cơ cao:
• Người tiếp xúc gần với bệnh nhân lao: những người sống chung hoặc làm việc trong môi trường kín với bệnh nhân lao phổi (gia đình, nơi làm việc, nhà tù, bệnh viện).
• Người mắc các bệnh mạn tính hoặc suy giảm miễn dịch, sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch kéo dài.
+ Những người đồng ý tham gia nghiên cứu và cung cấp c
1. Mục tiêu nghiên cứu: 1- Mô tả thực trạng môi trường lao động và ô nhiễm tiếng ồn ở một Công ty sản xuất linh kiện điện tử tại tỉnh Hà Nam, năm 2023. 2- Xác định thực trạng sức khỏe và giảm thính lực do tiếng ồn ở người lao động Công ty sản xuất linh kiện điện tử tại tỉnh Hà Nam năm 2023
2. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu cho mục tiêu 1: Đo đạc, khảo sát các yếu tố môi trường lao động
Đối tượng nghiên cứu cho mục tiêu 2: Người lao động lao động trực tiếp trong các line sản xuất của công ty.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế mô tả cắt ngang.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Mẫu phỏng vấn, khám sức khỏe, đo thính lực: Chọn mẫu toàn bộ người lao động trực tiếp tham gia sản xuất (n=195). Mẫu tiếng ồn: Chọn đại diện cho 8 line sản xuất và khu vực hành chính bao gồm 34 mẫu ồn chung, 9 mẫu ồn phân tích giải tần.
4. Kết quả:
Có 26,5% số mẫu đo tiếng ồn không đạt TCCP
Phân tích giải tần các mẫu đo tiếng ồn vượt TCCP, các giải tần vượt giới hạn cho phép là giải tần tần số cao (tần số công nghiệp) tần số 2000 Hz: 02 mẫu vượt TCCP; tần số 4000Hz: 05 mẫu vượt TCCP); tần số 8000 Hz 05 mẫu vượt TCCP.
79% người lao động làm việc trong môi trường có tiếng ồn cao; 52,8% người lao động làm việc trong môi trường tiếng ồn ngắt quãng.
Có 23,1% (45/195) người lao động làm việc trong môi trường ồn giảm thính lực, trong đó tỷ lệ giảm thính lực 2 tai là 19,5%.
Tỷ lệ giảm thính lực cao nhất ở NLĐ có độ tuổi 30-39 (41,1%)
Tỷ lệ giảm thính lực tăng theo thâm niên nghề nghiệp. NLĐ có tuổi nghề >= 5 năm có tỷ lệ giảm thính lực cao nhất (33.0%).
NLĐ làm việc trong điều kiện môi trường tiếng ồn cao/ngắt quãng có nguy cơ giảm thính lực cao hơn NLĐ làm việc trong ĐK tiếng ồn không cao/ không ngắt quãng.
NLĐ có tần suất sử dụng nút tai không thường xuyên/hiếm khi có nguy cơ giảm thính lực cao hơn so với NLĐ sử dụng nút tai thường xuyên và rất thường xuyên.
Toàn bộ người lao động bị giảm thính lực đều ở mức độ nhẹ (ngưỡng nghe 21-40dB); không có người lao động giảm thính lực mức độ vừa và nặng.
Mục tiêu: Mô tả thực trạng môi trường lao động và sức khỏe tâm thần của người lao động khai thác than hầm lò tại Công ty Than Mạo Khê và Công ty cổ phần Than Vàng Danh năm 2022 – 2023. Phân tích một số yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần của người lao động khai thác than hầm lò tại Công ty Than Mạo Khê và Công ty cổ phần Than Vàng Danh năm 2022 – 2023.
Phương pháp nghiên cứu: Một nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 180 người lao động khai thác than hầm lò thuộc 02 công ty khai thác than ở Quảng Ninh. Công cụ nghiên cứu là test lo âu Zung và test trầm cảm Beck được sử dụng và đánh giá.
Kết quả: Tỷ lệ số mẫu không đạt TCCP ở các yếu tố: vi khí hậu, tiếng ồn, độ rung, nồng đội bụi than ở mức cao. Giá trị trung bình các yếu tố này vượt TCCP, đặc biệt bụi than vượt TCCP hàng chục lần. Có 15% đối tượng nghiên cứu có các vấn đề về sức khỏe tâm thần, trong đó có 7 người (3,9%) có rối loạn lo âu và 10 người (5,56%) có trầm cảm, 10 người (5,56%) có cả 2 vấn đề về sức khỏe tâm thần là lo âu và trầm cảm. 8,88% (16 người) có rối loạn lo âu mức độ nhẹ; có 1 người rối loạn lo âu mức độ nặng. Trong số các đối tượng có trầm cảm có 15 người (8,33%) trầm cảm mức độ nhẹ; 2 đối tượng trầm cảm mức độ vừa và 3 đối tượng có trầm cảm mức độ nặng qua khảo sát bằng test Beck. Kết quả phân tích cho thấy một số yếu tố có liên quan đến sức khỏe tâm thần ở người lao động: tuổi nghề, không hài lòng về thu nhập, không hài lòng về công việc, sử dụng rượu bia, cảm nhận MTLĐ rất nhiều bụi, thừa ánh sáng, thiếu ánh sáng, cảm nhận chung MTLĐ xấu.
Kết luận: Cần có những nghiên cứu lớn về thực trạng sức khỏe tâm thần người lao động khai thác than hầm lò để xác định đối tượng nguy cơ, yếu tố liên quan để có biện pháp can thiệp sớm hiệu quả.
Mục tiêu: nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng điều kiện môi trường lao động, sức khỏe, bệnh tật của người lao động tại một công ty may ở Thanh Hóa năm 2022. Phương pháp nghiên cứu: Một nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên hai nhóm mẫu là điều kiện môi trường lao động và 460 người lao động làm việc trong một công ty may tại Thanh Hóa năm 2022 để đánh giá điều kiện môi trường lao động tại và tình trạng sức khỏe bệnh tật của công nhân tại cơ sở này. Kết quả: Hầu hết các vị trí làm việc tại công ty đều có các yếu tố trong môi trường lao động như vi khí hậu, ánh sáng, tiếng ồn, nồng độ bụi nằm trong giới hạn cho phép, chỉ có 28,6% vị trí làm việc tại khu vực may có tiếng ồn vượt giới hạn cho phép. Đối tượng nghiên cứu có tỷ lệ mắc các bệnh về mắt là nhiều nhất, tiếp đến các bệnh về tai mũi họng, răng hàm mặt, sản phụ khoa, tim mạch, tiêu hóa,… Nhóm bệnh về tiết niệu, cơ xương khớp chiếm tỷ lệ thấp. Triệu chứng hay gặp nhất sau giờ làm của NLĐ là đau đầu (58,5%), sau đó là triệu chứng đau vùng dạ dày, mệt mỏi. Người lao động có sức khỏe loại I và II chiếm 88,1%, loại III và IV chiếm 11,9 %.
Mục tiêu: 1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh lao phổi tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2023 - 2024. 2. Mô tả chế độ nuôi dưỡng của người bệnh lao phổi tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2023 - 2024.
Đối tượng: Người bệnh từ 20 đến 65 tuổi lần đầu được chẩn đoán xác định lao phổi và điều trị tại khoa Lao hô hấp, Bệnh viện Phổi Trung ương.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 135 người bệnh.
Kết quả chính: Tỉ lệ người bệnh lao phổi suy dinh dưỡng tại khoa Lao hô hấp, Bệnh viện Phổi Trung ương theo phân loại BMI là 34,1%, theo phân loại chu vi vòng cánh tay là 35,6%, theo phân loại albumin là 49,5%. Tỉ lệ người bệnh có nguy cơ suy dinh dưỡng theo SGA là 76,3%. Hầu hết người bệnh chưa đáp ứng đủ nhu cầu khuyến nghị về năng lượng, protein, vitamin và các khoáng chất khác.
Marc Choisy, Angela McBride, Mary Chambers, Chanh Ho Quang, Huy Nguyen Quang, Nguyen Thi Xuan Chau, Giang Nguyen Thi, Ana Bonell, Megan Evans, Damien Ming, Thanh Ngo-Duc, Pham Quang Thai, Duy Hoang Dang Giang, Ho Ngoc Dan Thanh, Hoang Ngoc Nhung, Rachel Lowe, Richard Maude, Iqbal Ely
Wellcome Open Research
This article summarises a recent virtual meeting organised by the Oxford University Clinical Research Unit in Vietnam on the topic of climate change and health, bringing local partners, faculty and external collaborators together from across the Wellcome and Oxford networks. Attendees included invited local and global climate scientists, clinicians, modelers, epidemiologists and community engagement practitioners, with a view to setting priorities, identifying
synergies and fostering collaborations to help define the regional
climate and health research agenda. In this summary paper, we
outline the major themes and topics that were identified and what will
be needed to take forward this research for the next decade. We aim
to take a broad, collaborative approach to including climate science in
our current portfolio where it touches on infectious diseases now, and
more broadly in our future research directions. We will focus on
strengthening our research portfolio on climate-sensitive diseases,
and supplement this with high quality data obtained from internal
studies and external collaborations, obtained by multiple methods,
ranging from traditional epidemiology to innovative technology and
artificial intelligence and community-led research. Through timely
agenda setting and involvement of local stakeholders, we aim to help
support and shape research into global heating and health in the
region.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG - WHO Report 2020 - Global Tuberculosis Control), mặc dù đã đạt được một số thành tựu đáng kể trong công tác chống lao trong thời gian qua, bệnh lao vẫn đang tiếp tục là một trong các vấn đề sức khoẻ cộng đồng chính trên toàn cầu. TCYTTG ước tính năm 2019 trên toàn cầu có khoảng 10 triệu người hiện mắc lao, một con số đã giảm rất chậm trong những năm gần đây; 8,2% trong số mắc lao có đồng nhiễm HIV. Bệnh lao là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai trong các bệnh nhiễm trùng với khoảng 1,2 triệu người tử vong do lao và khoảng 208.000 người chết do lao trong số những người nhiễm HIV. Số tử vong này làm cho lao là một trong các bệnh gây tử vong hàng đầu ở nữ giới. Năm 2019 trên toàn cầu ước tính tỷ lệ mắc lao đa kháng thuốc là 3,3% trong số bệnh nhân mới và là 17,7% trong số bệnh nhân điều trị lại1
Xu hướng dịch tễ bệnh lao trên toàn cầu nói chung vẫn đang có chiều hướng giảm, nhưng chưa đủ để đạt được mục tiêu đã đặt ra vào năm 2020 là giảm 20% so với năm 2015. Tỷ lệ giảm trong giai đoạn 2015 đến 2019 là khoảng 9%, với tỷ lệ mới mắc giảm khoảng 2,3%/năm trong giai đoạn 2018-2019. Tương tự, tỷ lệ tử vong do lao cũng đang giảm trên toàn cầu, nhưng chưa thể đạt mục tiêu đặt ra vào năm 2020 là giảm 35% trong giai đoạn 2015 - 2020. Tỷ lệ tử vong giảm trong 2 năm 2018 - 2019 là khoảng 14%.1
Chương trình Chống lao Quốc gia Việt Nam được thành lập năm 1986 và xây dựng chiến lược DOTS (về điều trị có kiểm soát trực tiếp) được áp dụng từ năm 1992. Kể từ năm 1998, chương trình Phòng chống lao Quốc gia Việt Nam là một trong những chương trình thành công nhất về kết quả điều trị, với tỷ lệ điều trị thành công các ca bệnh lao AFB (+) mới liên tục đạt trên 90%. Mặc dù đạt được kết quả này nhưng Việt Nam hiện vẫn là nước có gánh nặng bệnh lao cao, đứng thứ 11 trong 30 nước có số người bệnh lao cao nhất trên toàn cầu, đồng thời đứng thứ 11 trong số 30 nước có gánh nặng bệnh lao kháng đa thuốc cao nhất thế giới. Theo ước tính của Tổ chức y tế thế giới Việt Nam có khoảng 170.000 ca lao mắc mới mỗi năm (176/100.000). Trong đó tỷ lệ kháng đa thuốc trong bệnh nhân mới là 3,6%, trong nhóm bệnh nhân điều trị lại khoảng 17%2
Mặc dù, Việt Nam đã có chính sách hỗ trợ bệnh nhân lao như miễn phí thuốc điều trị3, tuy nhiên người bệnh vẫn còn gặp phải một số các rào cản trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh, bao gồm chi trả thêm các chi phí liên quan đến dịch vụ y tế, chi phí đi lại, nơi ở, thực phẩm, giảm thu nhập, năng suất và thời gian. Theo một nghiên cứu về chi phí của bệnh nhân lao tại ba nước: Ghana, Cộng hoà Dominica và Việt Nam, đã chỉ ra rằng có 27% bệnh nhân tại Việt Nam phải nghỉ việc trong quá trình điều trị và chi tiêu hộ gia đình tăng thêm do tăng chi phí thực phẩm và chăm sóc sức khoẻ lên đến 50%4. Trong một nghiên cứu tổng quan được công bố năm 2019 TS. Võ Xuân Nam và cộng sự đã Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao đa kháng thuốc và tiền siêu/siêu kháng thuốc. Kết quả cho thấy chất lượng cuộc sống các bệnh nhân mắc bệnh lao bị ảnh hưởng nghiêm trọng không chỉ bởi tình trạng bệnh tật mà còn bởi áp lực kinh tế cũng như áp lực từ cộng đồng. Các bệnh nhân lao kháng thuốc sau khi được điều trị khỏi vẫn còn để lại những di chứng nặng nề về mặt thể chất cũng như tâm lý xã hội3. Ngoài gánh nặng về tiền bạc và thể chất bệnh nhân lao còn chịu thêm gánh nặng về tinh thần. Bệnh lao kháng thuốc không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân mà còn ảnh hướng tới thể chất, tình cảm và nhu cầu xã hội. Thành phố Hà Nội là tỉnh có số bệnh nhân lao kháng thuốc cao thứ 4 trong các tỉnh miền Bắc và số bệnh nhân lao đa kháng thuốc đang có xu hướng gia tăng qua các năm2. Do vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu về Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao kháng đa thuốc với 2 mục tiêu chính:
1. Mô tả chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao đa kháng thuốc tại Hà Nội năm 2021.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lao đa kháng thuốc tại Hà Nội năm 2021
Hiện nay có nhiều hệ thống đọc phim Xquang ngực tự động ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ sàng lọc lao phổi đang được ứng dụng và phát triển trên thế giới. Tại Việt Nam các nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn nhiều hạn chế. Bằng việc tìm kiếm một cách hệ thống các nghiên cứu về hệ thống đọc phim Xquang ngực tự động trong sàng lọclao phổi dựa trên 2 cơ sở dữ liệu là MEDLINE và Cochrane chúng tôi đã tìm được 13 tài liệu để đưa vào phân tích. Trong số này chỉ có 3 hệ thống đạt mức độ nhạy và độ đặc hiệu theo khuyến cáo của TCYTTG (>90% và >70%) đó là: qXR, CAD4TB, INSIGHT CXR. Chúng tôi thực hiện đề tài nhằm mục tiêu nêu bật bức tranh tổng quan và giá trị của một số phần mềm ứng dụng AI trong đọc phim X quang ngực tự động hỗ trợ chẩn đoán lao phổi.
Mục tiêu: 1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người lao động nhập cư tại một cơ sở sản xuất ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan tới tình trạng dinh dưỡng của người lao động nhập cư tại một cơ sở sản xuất ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021.
Nghiên cứu cắt ngang trên 400 công nhân mỏ từ 20 đến 50 tuổi tại công ty Than Quảng Ninh. Sử dụng bộ câu hỏi điều tra nhân trắc và phương pháp hỏi ghi 24h để điều tra khẩu phần.
Kết quả: Công nhân mỏ than có 15,5 % thừa cân, 0,5% béo phì, thiếu năng lượng trường diễn ở đối tượng nghiên cứu là 2%. Mức năng lượng khẩu phần ăn trung bình cả ngày của công nhân tham gia nghiên cứu là 2825,4 ± 276,6 Kcalo. Trong đó, mức tiêu thụ protein là 104,7 ± 12,6g, protein động vật là 51,0 ± 10,7g, lipid là 66,6 ± 8,3g, lượng lipid thực vật chiếm 22,6 ± 2,3g, glucid là 451,9 ± 55,4g. Tỉ lệ protein: lipid: glucid khẩu phần tương ứng là 14,8: 21,3: 63,9. Đáp ứng nhu cầu năng lượng khuyến nghị đạt 102,2%, các chất sinh năng lượng đều cao hơn nhu cầu khuyến nghị với tỉ lệ protid: lipid và glucid lần lượt là: 153,4%: 101,1%và 122,1%.
Tạp chí Y học Việt Nam
Tạp chí nghiên cứu Y học
Tạp chí nghiên cứu Y học
Tạp chí nghiên cứu Y học
|