1. Mục tiêu
1. Mô tả thực trạng nguồn nhân lực y tế tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh, thành phố Hà Nội giai đoạn 2019-2023.
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới nguồn nhân lực y tế tại bệnh viện đa khoa Đông Anh, thành phố Hà Nội giai đoạn 2019 – 2023.
2. Đối tượng
2.1. Đối tượng nghiên cứu định lượng: Toàn bộ báo cáo về cơ cấu tổ chức, cơ cấu nhân lực y tế, các báo cáo công tác của Bệnh viện đa khoa Đông Anh từ năm 2019 đến năm 2023.
2.2. Đối tượng nghiên cứu định tính: Ban Giám đốc bệnh viện, Trưởng khoa phòng, bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh đang công tác tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh.
3. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng.
4. Kết quả chính
4.1. Thực trạng nguồn nhân lực y tế tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh, thành phố Hà Nội giai đoạn 2019 – 2023.
- Số lượng nhân lực: Tổng số nhân lực bệnh viện giai đoạn 2019 – 2023 tương đối ổn định, không có sự biến động nhiều. Số lượng nhân viên y tế đáp ứng được yêu cầu của thông tư 08/2007/TTLT-BYT-BNV, năm 2023 nhân lực đáp ứng được 77,7% theo quy định thông tư số 03/TT-BYT ngày 17/02/2023 của Bộ Y tế về vị trí việc làm, định mức số lượng người làm việc tại các cơ sở y tế. Tỷ lệ lao động nữ cao hơn nhiều so với lao động nam (chiếm từ 76,4% - 83,2%).
- Chất lượng nhân lực: Tỷ lệ bác sĩ có trình độ sau đại học đạt từ 42% -48%, tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y đạt chuẩn cao đẳng theo quy định Thông tư 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07/10/2015 của liên Bộ Y tế - Bộ Nội vụ.
- Biến động nhân lực: trong 05 năm, bệnh viện tuyển dụng được 86 lao động hợp đồng, 101 viên chức. Số lượng cán bộ thôi việc, nghỉ hưu, chuyển công tác là 69 người.
- Bệnh viện thực hiện nhiều chính sách đãi ngộ đối với nhân viên y tế: hỗ trợ đào tạo, thăng hạng chức danh nghề nghiệp, khen thưởng động viên kịp thời. Thu nhập bình quân/người tăng dần theo các năm từ 141 triệu (năm 2019) lên 192 triệu (năm 2023).
4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nguồn nhân lực y tế tại bệnh viện đa khoa Đông Anh, thành phố Hà Nội giai đoạn 2019-2023.
- Nhóm yếu tố ảnh hưởng tích cực đến nguồn nhân lực: sự quan tâm của ban lãnh đạo bệnh viện, chính sách đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, đánh giá, ghi nhận và cơ hội thăng tiến, môi trường làm việc thân thiện, điều kiện làm việc.
- Nhóm yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn nhân lực bệnh viện: Cơ chế tự chủ về tài chính, sự cạnh tranh giữa các cơ sở y tế, thu nhập của cán bộ nhân viên.
Abstract
Objective: This thesis investigates the contributions of the Global Fund in controlling malaria in Vietnam since 2014, focusing on its multifaceted approaches, strategies, and interventions in malaria prevention, detection, and treatment, as well as overall health system strengthening.
Subject and Methods: The research employs a case study design combined with a desk review of project documents, financial reports, impact assessments, and academic literature. Qualitative methodologies, including key informant interviews and thematic analysis, are used to evaluate the advantages and disadvantages of the Global Fund's interventions.
Key Findings: The study finds that the Global Fund's contributions have significantly enhanced malaria control in Vietnam through increased funding, technical support, and infrastructural improvements. Notable successes include improved diagnostic capabilities, the introduction of rapid diagnostic tests (RDTs), and increased community awareness and engagement. However, challenges such as logistical issues, funding constraints, and the emergence of drug-resistant malaria strains were identified. The research highlights the critical role of international collaboration, government commitment, and community involvement in sustaining malaria control efforts and provides insights into effective public health interventions.
Objective: Many COVID-19 patients in ICU suffered from acute respiratory distress syndrome (ARDS), which requires urgent respiratory and hemodynamic support. There are several nutrition-specific issues in ICU COVID-19 patients that need to be taken into consideration, such as malnutrition and the refeeding syndrome. Refeeding syndrome must be prevented when we feed patients to avoid overfeeding and its complications. In this study, we aimed to assess the risk of refeeding syndrome and related factors in COVID-19 patients in ICU at COVID-19 Patients Treatment Hospital (COVID-19 hospital) in 2021-2022.
Subject: 359 COVID-19 patients in ICU at COVID-19 hospital
Method: A cross-sectional study was conducted among COVID-19 patients admitted to the COVID-19 hospital from September 2021 to December 2022. The nutritional status of patients was assessed by GLIM 2019 criteria. The risk of refeeding syndrome was evaluated by ASPEN 2020 criteria.
Results: The risk of refeeding syndrome in COVID-19 patients in ICU was 54.04%, of which moderate risk was 37.33%, compared with 16.7% for severe risk. The associated factors to the risk of refeeding syndrome included overweight, using non-invasive positive-pressure ventilation, invasive mechanical ventilation, feeding through enteral nutrition and feeding through total parenteral nutrition.
Conclusion: The refeeding syndrome is a severe complication of nutritional intervention; therefore, early diagnosis and preventive treatment of refeeding syndrome will help prevent feeding complications in ICU patients
It is crucial to study characteristics and determine associated factors with the severe progression of COVID-19 while the pandemic has been complicated yet. We aimed to describe the characteristics of COVID-19 vaccination, clinical classification and determine associated factors with the severe progression of disease among COVID-19 hospitalized patients within six months in 2022.
Methods: A study was conducted among 3,242 COVID-19 patients in two provincial hospitals in Bac Ninh and Nghe An from January to June 2022. A cross-sectional study was utilized to describe the prevalence of COVID-19 vaccination and clinical classification among COVID-19 patients. A nested case-control study was conducted among 771 COVID-19 patients who were classified into the non-severe group within the first 24 hours of admission. Cases were defined as progress to severe COVID-19 during hospitalization and controls were COVID-19 patients who did not progress to the severe stage of disease. We used an online research health record to collect patient’s information. Multivariable logistic regression was utilized to explore and decide associated factors with the progression to severe COVID-19 among participants.
Results: 30.1% of patients have not been vaccinated against COVID-19 yet and 60.6% of patients had been vaccinated at least two doses against COVID-19. The percentage of patients who were classified into the severe disease group at admission time was 20.0% and 4.8% of patients progressed to severe COVID-19 during hospitalization. Older age, male, pre-comorbidities such as diabetes, chronic cardiovascular or pulmonary disease increased the likelihood of progressing to severe COVID-19 disease. D-dimer ≥ 500 ng/ml, the percentage of lymphocytes in blood < 20%, and C-reactive protein (CRP) ≥ 5 mg/l were identified as prognostic factors for severe progression of COVID-19. At least two primary doses of the COVID-19 vaccine and combining at least one dose of AstraZeneca with other types of COVID-19 vaccine significantly decreased the chance of deteriorating COVID-19.
Conclusion: Our findings highlighted that it is important to monitor patients and early diagnoses with the help of prognostic factors. Moreover, widely supplying two primary and boosted doses of the COVID-19 vaccine for people, especially for the high-risk population is necessary.
1. Mục tiêu:
- Mô tả thực trạng duy trì điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP) của nam quan hệ tình dục đồng giới tại Phòng khám SHP trong đại dịch COVID-19 năm 2020 - 2021.
- Phân tích một số yếu tố liên quan đến duy trì điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP) ở nhóm đối tượng trên.
2. Đối tượng: MSM trên 16 tuổi, sử dụng PrEP từ 3 tháng trở lên tại phòng khám SHP, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
3. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang sử dụng số liệu chính của nghiên cứu “Đánh giá ảnh hưởng của COVID-19 đối với tiếp cận dịch vụ PrEP và những người tham gia PrEP” thuộc Dự án SATREPS do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ
4. Kết quả chính: Trong thời kỳ COVID-19, có 64,8% MSM duy trì sử dụng PrEP và 35,2% MSM không duy trì điều trị PrEP do hết thuốc. So sánh giữa hai nhóm về tình trạng duy trì điều trị PrEP trong đại dịch COVID-19, chúng tôi nhận thấy rằng các khách hàng duy trì điều trị PrEP có độ lớn tuổi hơn, sử dụng cả hai hình thức PrEP, có tiền sử nhiễm viêm gan B và báo cáo có mức độ tuân thủ PrEP trong 30 ngày trước thời điểm tham gia nghiên cứu ở mức cao. Mô hình hồi quy logistic đa biến cho thấy độ tuổi lớn hơn, sử dụng PrEP theo cả hai hình thức, báo cáo mức độ tuân thủ PrEP cao trong 30 ngày trước thời điểm tham gia nghiên cứu là yếu tố có liên quan đến duy trì điều trị PrEP trong thời gian COVID-19 bùng phát tại Việt Nam.
Đồng nhiễm HIV/HCV làm tăng nguy cơ phát triển xơ gan và tử vong của người bệnh. Điều trị viêm gan vi rút C (VGC) bằng thuốc tác động trực tiếp vào vi rút viêm gan C an toàn, hiệu quả, hầu như không có tương tác với ARV trên nhóm người bệnh này. Thành phố Hải Phòng hiện đứng thứ 7 trên toàn quốc về số người nhiễm HIV còn sống, trong đó có 24,9% người nhiễm vi rút viêm gan C. Mục tiêu: Mô tả kết quả điều trị viêm gan vi rút C trên nhóm người bệnh đồng nhiễm HIV tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2021-2022. Phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 550 người bệnh điều trị viêm gan C đang điều trị HIV tại 8 Phòng khám ngoại trú ở thành phố Hải Phòng thông qua dữ liệu của phần mềm HMED VGC. Kết quả: Tỷ lệ SVR (đáp ứng vi rút bền vững) đạt là 86,2 %, tỷ lệ không đạt SVR là 3,6 % và 10,2 % người không có kết quả SVR12 ở tuần thứ 12 sau kết thúc điều trị . Tỷ lệ điều trị thành công ở nhóm tuổi 18-29, nữ giới, giai đoạn xơ gan F4, đang điều trị phác đồ HIV bậc 2 đạt 100%. Tỷ lệ điều trị thành công tương đương nhau ở nhóm không tiêm chích ma túy, xơ gan còn bù hay không xơ gan, giữa các giai đoạn xơ gan F0-F1-F2-F3. Kết quả không đạt SVR12 chủ yếu ở nhóm tuổi 40-49, là nam giới, có tiền sử tiêm chích ma túy và lao động tự do. Khuyến nghị: Cần chú trọng theo dõi kết quả điều trị cho nhóm người bệnh nam giới đồng nhiễm HIV/HCV ở nhóm 40-49 tuổi, có tiền sử tiêm chích ma túy và là lao động tự do. Cần tìm hiểu rõ hơn về các rào cản, nguyên nhân khiến cho các người bệnh không đến xét nghiệm kết quả SVR12 cuối kỳ hoặc bỏ điều trị.
Mục tiêu: Mô tả kiến thức, thực hành về phòng chống đuối nước của học sinh Trường trung học cơ sở Phạm Hồng Thái, xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, năm 2023.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 828 học sinh từ khối 6 đến khối 9 đang theo học tại trường trung học cơ sở Phạm Hồng Thái từ tháng 9/2023 đến tháng 4/2024.
Kết quả: Tỷ lệ học sinh tại trường Trung học sơ sở Phạm Hồng Thái, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có kiến thức tốt về phòng chống đuối nước là 52,7%. Tỷ lệ học sinh có thực hành tốt về phòng chống đuối nước là 34,7%. Có 47,5% học sinh biết bơi, trong đó có 44,7% học sinh thực hành tốt an toàn khi bơi. Khi gặp tình huống nguy hiểm dưới nước, 86,2% học sinh thực hành tốt kỹ năng tự cứu đuối. Tỷ lệ 50,2% học sinh thực hành tốt đảm bảo an toàn khi di chuyển bằng đường thuỷ. Tỷ lệ học sinh thực hành tốt cứu nạn nhân đuối nước và sơ cấp cứu nạn nhân đuối nước lần lượt là 57,5% và 44,3%.
Kết luận: Thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống đuối nước ở lứa tuổi học sinh trung học sơ cở còn thấp. Các chương trình can thiệp về giảng dạy kỹ năng bơi lội và các kỹ năng tự cứu đuối, cứu nạn nhân đuối nước và sơ cấp cứu đuối nước cần được triển khai trong các chương trình sức khoẻ học đường.
Mục tiêu: Mô tả thực trạng và phân tích các yếu tố liên quan đến bắt nạt trực tuyến ở học sinh phổ thông, dân tộc thiểu số Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THPT Miền Tây, Yên Bái năm 2023.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 414 học sinh dân tộc thiểu số độ tuổi từ 15 - 19 tuổi, trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học phổ thông (PT DTNT THPT) Miền Tây, Yên Bái năm học 2023 - 2024 về thực trạng bắt nạt trực tuyến. Nghiên cứu áp dụng thang đo Cyber Bullying Inventory đã được kiểm định và phương pháp chọn mẫu toàn bộ.
Kết quả: Tỉ lệ học sinh bị bắt nạt bởi ít nhất 1 hình thức là 29,0%, trong đó thỉnh thoảng bị bắt nạt là 23,7%, thường xuyên bị bắt nạt là 5,3%. Một số trải nghiệm bị bắt nạt với tần suất nhiều là “bị người lạ hoặc người mà bạn không thích thường xuyên gửi tin nhắn quấy rầy”, “bị xâm nhập trái phép vào các tài khoản trên mạng xã hội”, “bị đặt điều/ nói những điều không có thật về mình”. Đối tượng gây ra chủ yếu là người lạ/ không quen biết (52,2%), cách ứng phó mà học sinh chọn nhiều nhất là chia sẻ thông tin và tìm lời khuyên (63,5%). Khối lớp 12 có nguy cơ bị bắt nạt trực tuyến cao hơn khối lớp 10 và 11.
Kết luận: Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số bị bắt nạt trực tuyế n chiếm tỉ lệ khá cao. Các trải nghiệm bắt nạt trực tuyến với nhiều hình thức và tần suất nhiều, tuy nhiên đối tượng bắt nạt đa số là người lạ/ không quen biết.
Nghiên cứu được thực hiện với hai mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng hoạt động thể lực của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội năm 2023, và (2) Phân tích một số yếu tố liên quan đến hoạt động thể lực của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội năm 2023. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, phỏng vấn trực tiếp 352 người bệnh THA ngoại trú. Kết quả cho thấy có 77,3% người tham gia nghiên cứu có HĐTL đạt theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (thời gian HĐTL trung bình của người bệnh là 415,2±297,5 phút/tuần). Các yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê tới HĐTL của đối tượng nghiên cứu là tuổi (OR=0,95, 95%CI: 0,91-0,99), nhận thức lợi ích và rào cản của HĐTL (OR=1,87, 95%CI: 1,04-3,34), yếu tố liên cá nhân (OR=0,76, 95%CI: 0,60-0,95), và yếu tố môi trường (OR=3,22, 95%CI: 1,99-5,20). Tỷ lệ người bệnh THA tại bệnh viện thực hiện HĐTL đạt cao hơn một số nghiên cứu trên cùng đối tượng. Cán bộ y tế tiếp tục chú trọng hướng dẫn người bệnh HĐTL phù hợp với tuổi và tình trạng bệnh, tập trung nâng cao nhận thức của người bệnh và người nhà về lợi ích và rào cản của HĐTL, các cấp chính quyền xây dựng, cải tạo và duy trì cơ sở hạ tầng an toàn, phù hợp để người dân tăng cường HĐTL.
Việc cải thiện tỷ lệ tiêm vaccine cho trẻ em là rất quan trọng để ngăn ngừa hậu quả lâu dài của các ca nhiễm COVID-19 nhất là với xuất hiện của các biến thể COVID-19 kháng thuốc, và đặc biệt là ở những nơi khan hiếm nguồn lực. Nghiên cứu này xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận và sẵn sàng chi trả đối với tiêm vaccine COVID-19 cho trẻ em ở những người có chuyên môn y tế và cộng đồng.
Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2022 trên một bộ câu hỏi trực tuyến có sử dụng phương pháp lựa chọn rời rạc (DCE). Cuối cùng có 891 người (86% người tham gia nghiên cứu) từ nhiều vùng miền khác nhau của Việt Nam đã được đưa vào phân tích.
Kết quả cho thấy, hầu hết những người tham gia nghiên cứu đều đồng ý tiêm vaccine cho tất cả trẻ em, trong đó những người có chuyên môn về y tế là 76,2% và ở nhóm cộng đồng là 69,3%. Các nhân viên y tế là nguồn thông tin chính về vaccine (70,7%). Các tùy chọn chi trả 50% và chi trả toàn bộ chiếm các tỷ lệ lớn nhất lần lượt là 28,3% và 26,6%.
Tình trạng có con hoặc mang thai làm giảm sự chấp nhận trong khi sự hài lòng về dịch vụ y tế làm tăng sự chấp nhận. Mối quan tâm về đặc điểm của vaccine làm giảm sự chấp nhận ở những người có chuyên môn về tế và cộng đồng. Gánh nặng chi phí y tế trong quá khứ có tương quan tiêu cực với ý định chi trả cho vaccine, trong khi sự hài lòng về dịch vụ y tế có tương quan tích cực mức chi trả.
Sự mâu thuẫn đáng kể giữa mức độ chấp nhận cao và mức độ sẵn sàng chi trả thấp nhấn mạnh vai trò của thông tin về vaccine và niềm tin của người dân đối với sự an toàn của vaccine. Để xây dựng một chương trình tiêm chủng hiệu quả cho trẻ em tại Việt Nam, cần cung cấp thông tin chính xác và đáp ứng các dịch vụ tiêm chủng, chủ yếu thông qua các nhân viên y tế có hiểu biết và chuyên nghiệp, có thể cải thiện ý định tiêm chủng và chi trả cho vaccine COVID-19.
Nghiên cứu về hành vi tìm kiếm chăm sóc sức khỏe của người bệnh đang quản lý tại Bệnh viện Thận Hà Nội năm 2023 được thực hiện nhằm (1) Mô tả hành vi tìm kiếm chăm sóc sức khỏe của người bệnh thận mạn tính đang quản lý tại khoa khám bệnh, Bệnh viện Thận Hà Nội năm 2023 và (2) Xác định một số rào cản tìm kiếm chăm sóc sức khỏe chuyên khoa của người bệnh. Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính. 430 người bệnh thận mạn tính tham gia phỏng vấn bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn, kết quả thu được: Tuổi trung bình 61,92 ± 12,99; 50,9% nam giới, 86,5% học vấn từ trung học phổ thông trở xuống, 40% sống ở thành thị, 68,8% giai đoạn 1-3, 74% người bệnh có bệnh kèm theo; 67,9% có hành vi tìm kiếm chăm sóc sức khỏe tại cơ sở y tế. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm chăm sóc sức khỏe của người bệnh gồm: tuổi, tình trạng hôn nhân, thời gian điều trị tại bệnh viện và giai đoạn bệnh. Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng hình thức phỏng vấn sâu 10 người bệnh, 03 người nhà người bệnh và 02 bác sĩ. Một số rào cản người bệnh gặp phải trong tìm kiếm CSSK chuyên khoa bao gồm: (1) Yếu tố cá nhân: nhận thức, thái độ, tình trạng bệnh, niềm tin trong điều trị của người bệnh, (2) Yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường: chi phí điều trị, thông tin về các phương pháp chữa bệnh truyền thống, (3) Yếu tố về hệ thống y tế: sàng lọc, quản lý bệnh thận mạn tính tại tuyến y tế cơ sở, chuyển tuyến điều trị và (4) Yếu tố khác: dấu hiệu bệnh không điển hình, hoạt động truyền thông, giáo dục sức khỏe về bệnh thận và thông tin về Bệnh viện Thận Hà Nội trên các phương tiện thông tin còn hạn chế. Khuyến nghị đưa ra là cần cường công tác truyền thông, nâng cao hiểu biết của người dân về bệnh thận mạn tính, đẩy mạnh sự tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Bệnh viện Thận Hà Nội cần hỗ trợ các đơn vị màng lưới sàng lọc, phát hiện sớm bệnh thận trong cộng đồng, nâng cao công tác quản lý sớm người bệnh để hạn chế tối đa các biến chứng của bệnh và giảm chi phí điều trị.
Mục tiêu: Xác định một số yếu tố liên quan đến dấu hiệu trầm cảm, lo âu và stress ở người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 379 người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa Hòe Nhai từ 24/10/2023 đến 17/11/2023. Người bệnh được đánh giá là có dấu hiệu trầm cảm khi điểm trầm cảm ở thang đo DASS-21 từ 10 điểm trở lên.
Kết quả: Tỷ lệ người bệnh có dấu hiệu trầm cảm là 14,8%. Các yếu tố làm tăng nguy cơ xuất hiện dấu hiệu trầm cảm ở người bệnh gồm > 60 tuổi (OR=2,22), thời gian điều trị tăng huyết áp > 5 năm (OR=1,90), bệnh lý kèm theo (OR=2,53), gặp phải tác dụng không mong muốn của thuốc điều trị tăng huyết áp (OR=4,78), không có khả năng kiểm soát tăng huyết áp (OR=17,78).
Kết luận: Các yếu tố về tuổi và đặc điểm bệnh tăng huyết áp có mối liên quan với nguy cơ trầm cảm, lo âu và stress của người bệnh. Do đó, bệnh viện cần can thiệp dựa trên các yếu tố nguy cơ này nhằm giảm tỷ lệ trầm cảm, lo âu và stress ở người bệnh.
Từ khóa: Trầm cảm, lo âu, stress, tăng huyết áp.
Mục tiêu: Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống Sốt xuất huyết Dengue và một số yếu tố liên quan đến thực hành về phòng chống Sốt xuất huyết Dengue của sinh viên nội trú trường Đại học Thủy Lợi, Hà Nội năm 2023.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 198 sinh viên nội trú trường Đại học Thủy Lợi, quận Đống Đa, Hà Nội.
Kết quả: Điểm trung bình kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) của đối tượng trong nghiên cứu này lần lượt là 12,21±6,27 điểm trên tổng 29 điểm, 22,99±5,79 điểm trên tổng 32,0 điểm và 6,21±3,17 điểm trên tổng 21 điểm. 52,5%, 54,0% và 54,5% sinh viên được đánh giá có kiến thức đạt, thái độ tích cực và thực hành đạt về phòng chống SXHD. Trong mô hình hồi quy logistic đa biến cho thấy sinh viên có kiến thức đạt hoặc được nhận thông tin về SXHD từ 2 hình thức truyền thông trở lên có khả năng có thực hành đạt về phòng chống SXHD cao hơn sinh viên có kiến thức không đạt và chưa được truyền thông về SXHD, trong khi sinh viên chuyên ngành công nghệ thông tin có khả năng có thực hành đạt về phòng chống SXHD thấp hơn sinh viên các chuyên ngành khác.
Kết luận: Tỷ lệ sinh viên nội trú có kiến thức đạt, thái độ tích cực và thực hành đạt về phòng chống SXHD vẫn còn thấp. Các yếu tố liên quan đến thực hành về phòng chống SXHD của sinh viên bao gồm: chuyên ngành học, kiến thức và số lượng hình thức truyền thông về SXHD mà đối tượng nghiên cứu đã nhận.
Mục tiêu: Mô tả thực trạng cung ứng dịch vụ phòng chống lao và các yếu tố liên quan của các trạm y tế xã tại tỉnh Nghệ An năm 2023.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 401/460 trạm y tế xã tại tỉnh Nghệ An.
Kết quả: Kết quả của nghiên cứu cho thấy hơn 90% trạm y tế xã tham gia nghiên cứu ở khu vực nông thôn (57,61%) và miền núi (32,42%). Tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ chỉ chiếm 74,12% và chỉ có 39,65% trạm y tế có chẩn đoán lao, phương pháp chuẩn đoán lao phổ biến nhất hiện nay tại các trạm y tế xã tại Nghệ An đó là triệu chứng lâm sàng (98,74%). Tỷ lệ thuốc sẵn có tại cả 3 khu vực còn thấp và khác biệt giữa các khu vực là không có ý nghĩa thống kê.
Kết luận: Thực trạng khả năng cung ứng dịch vụ phòng chống lao của tỉnh Nghệ An còn nhiều hạn chế về mặt nhân lực, chẩn đoán, điều trị, cơ sở vật chất, sinh phẩm và thuốc
|